nếu không phải một cái nhà gì cả?


Trong quá trình làm kênh podcast “Uống trà cùng Lạc”, mình nhận ra một chuyện thế này: những người bạn của mình, dù họ đang làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thậm chí đã làm khá nhiều năm – nhưng, khi để họ tự giới thiệu về mình, họ sẽ tránh dùng những danh xưng mà người đời thường nhắc về. Như là họa sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà phát hành, nhà thiết kế, nghệ nhân gốm, chuyên gia nghiên cứu…

Thay vào đó, họ chỉ nói thế này. À, tôi là một người kể chuyện. Tôi nặn gốm. Tôi làm nhạc. Tôi làm sách. Tôi viết. Tôi vẽ.

Và chính mình cũng vậy. Mỗi khi nghe ai đó nhắc đến mình là một nhà thơ, mình lại rúm ró.

Vì sao nhỉ? – mình nghĩ. Nếu chỉ có bản thân mắc cái chứng này, thì chuyện khá dễ hiểu. Nhưng khi đã trò chuyện với vài chục người, và thấy mọi người đều nói như vậy, mình bắt đầu suy nghĩ thêm một chút.

Và mình nhận ra thế này, chúng mình có một vài trải nghiệm không vui với chuyện trong nghề. Vì ở trong, nên chúng mình biết được một số thứ đặc thù mà người bên ngoài không biết được. Điều thú vị là – dù tiểu tiết khác nhau, nhưng chung quy lại đều giống ở một điểm: thị-phi.

Thị là đúng, phi là sai. Thị phi hiểu nôm na là những lời đồn đoán vô căn cứ, khó phân biệt đúng sai.

Mình ngán thị-phi phát điên. Mình nhận ra nó không phải thứ giúp ta khai mở, phát triển hay sáng tạo ra điều chi cả. Nó chỉ là thứ làm cho não ta tán loạn và mệt mỏi.

Và mình tin nhiều người trong nhiều lĩnh vực cũng vậy. Do đó, họ thà chọn là một người bên lề. Họ sợ khoác lên tấm áo “chuyên gia” để rồi lại phải giải thích rằng à không tôi không giống những người kia, tôi không định đụng vào mớ bòng bong nọ. Họ thà nói đơn giản rằng, vâng, đúng là tôi có yêu thích và làm cái này. Không, tôi không thuộc trường phái hay phong cách nào cả, tôi làm cái tôi nghĩ mình nên làm.

Câu chuyện khi đó, trở nên dễ thở hơn.

Tôi không cần phải chứng minh cho anh thấy tôi là một nhà văn và rằng đây là thứ văn chương đúng nghĩa. Tôi không cần phải quả quyết rằng tôi là một ca sĩ, hay nhạc sĩ, và rằng tôi có đủ bề dày, học thức, kinh nghiệm, tác phẩm để chứng minh cho danh xưng này của tôi.

Không cần nữa, tôi chỉ là một người yêu chữ, một người đang muốn hát lên, một người yêu đất.

Mình nghĩ những danh xưng thật ra không phải cái xấu, thậm chí, nó có thể trở thành động lực để người ta vươn tới – nếu muốn. Song, đôi khi, nó giống như chiếc móc treo trên tường, đính cổ áo người ta lại. Không di chuyển được, không nhìn khác được.

Khi đó, sẽ có những người khoát tay xin lỗi không treo áo. Xin là một người mặc áo điềm nhiên đi lại trên đường. Nếu ai thích, có thể dừng lại và nghe nhau một chút, xong rồi bước đi.

Nếu không phải một cái nhà gì cả, thì người ta vẫn có thể là một cái thuyền, một tấm phản, một bờ cỏ, một cành cây vắt ngang đang ngắm mặt trời.

Và bầu trời hôm ấy thì đẹp.

Nhược Lạc

về ngày Phụ nữ,

Hàng năm, cứ vào đầu tháng Ba và cuối tháng Mười, tôi lại thấy những cuộc tranh biện nổ ra khắp nơi về nữ quyền và các vấn đề xung quanh.

Một phía người ta cho rằng nên bỏ ngay mấy cái ngày vô nghĩa như 8/3 và 20/10 đi. Rằng nữ quyền trước tiên là sự bình quyền, không thể lấy một ngày ra để mị dân, rồi tiếp tục đày ải người nữ trong 364 ngày còn lại. Một phía khác, phía truyền thống hơn, vẫn cặm cụi khổ sở đi mua hoa và quà tặng những người nữ chung quanh mình.

Vậy, tôi theo phía nào?

Thật ra tôi theo phía những người không muốn nhớ bất kỳ ngày lễ nào trong năm. Tôi chỉ buộc phải nhớ ngày này dịp nọ để phục vụ cho công việc truyền thông của mình.

Nhưng mà tôi cũng nhớ mẹ tôi. Một người mẹ như bao người mẹ Việt Nam khác – luôn càm ràm con cái không biết tiết kiệm, mua cái này để làm gì, hoa cắm ba bữa là héo, ôi giồi ôi thuốc này tao có rồi, váy tao còn đầy ra, mua cái này cái kia để làm gì. Không biết tiết kiệm thì bao giờ mới mua được nhà.

Có điều, bằng một tính toán đơn giản, tôi nhận ra mình chẳng bao giờ mua được nhà. Thế nên tôi vẫn mua hoa.

Một bó hoa. Hoặc một cái váy lụa mặc mát. Một hộp trà nhỏ. Một cái cây nhỏ trong vườn.

Tôi vẫn mua một cái gì đó vào một dịp nào đó, như ngày Phụ Nữ. Bởi vì tôi vẫn thích nhìn thấy niềm hạnh phúc giấu giếm của mẹ tôi.

Họ đã quen vất vả, và quen nghĩ cho người khác trong cả cuộc đời. Nếu bây giờ ta ra nói với họ về nữ quyền, về sự tiến bộ, về việc yêu bản thân và sống cho chính mình, thì cũng chỉ là những lời nói suông.

Nhưng bất cứ cái gì ta mua về, nhân một cái ngày quái gở nào đó mà nhân gian nghĩ ra, lại vẫn có thể làm họ vui. Một niềm vui kín. Một sự sung sướng chớm nở khiến họ ngượng nghịu, phải giấu sau tất thảy những càm ràm, cái khoát tay, những lời mắng mỏ.

Tôi chọn đứng về phía niềm vui bé ấy, về ngày nhắc người ta phải nhớ nhau, về một nhịp chậm lại giữa đời sống đang mỗi lúc một nhanh hơn, gấp hơn, chóng tàn hơn.

Nhược Lạc

vì sao quán xá muôn đời thiết yếu

Hôm qua, sau rất nhiều ngày ở nhà, cuối cùng tôi cũng đã quyết định đến một quán nước quen thuộc, và uống một tách cà phê với nghệ, hạt tiêu, cốt dừa và sữa tươi. Thật trong đời tôi chưa từng nghĩ mình sẽ uống một món gì tổng hòa của những thứ kể trên – những thứ mà thoạt nghe đã cảm thấy đau bụng. Nhưng mà buồn cười lắm, lần đầu tiên uống, tôi đã phải lòng cái món này rồi. Nó ngon vô cùng. 

Hoặc là một món khác, ở quán khác, một sự kết hợp của kem trứng lạnh với cà phê espresso nóng. Trứng và cà phê không phải thứ quá lạ lẫm ở Hà Nội, nhưng quán này họ biến tấu một chút, thành ra vẫn lạ, béo ngậy thơm, uống rất hay.  

Hoặc là một quán khác nữa, có người chủ pha chế tự tay làm hết, trong chiếc quán riêng tư nhỏ bé. Thời gian ở đây như ngưng lại. Mỗi món đồ uống được bạn chủ pha một cách cẩn thận và chậm rãi. Bạn uống một món gì được pha từ tốn, tỉ mỉ, bạn có thể thấy ngay, có thể cảm nhận được.  

Tôi thích những quán nước ở Hà Nội, hay rộng hơn, trên toàn Việt Nam. Không phải quán nào cũng hay, nhưng khi bước chân vào một cái quán-hay, bạn sẽ biết ngay. Chúng có một ngôn ngữ riêng, tỏa ra ngay từ cửa vào, bám đầy trên mặt bàn ghế, trong mùi cà phê, mùi trà, mùi thơm thơ lan trong không khí, và trên gương mặt của người chủ, người pha chế. 

Khi bạn đến một thành phố lạ, bạn sẽ làm gì? Hẳn bạn sẽ tới những điểm du lịch nổi tiếng, những chỗ đẹp để chụp hình? Nhưng mà sau đấy, thế nào bạn cũng cần một quán nước. Để nghỉ chân, để uống nước, và hẳn rồi, để nghe chuyện của vùng đất đó. 

Không có chỗ nào dễ nghe những câu chuyện của một vùng đất hơn một quán nước. 

Ở quán ăn, cũng đầy câu chuyện, nhưng là kiểu chuyện sống động, sôi nổi và có phần vội vã. Nơi đó, cái bụng đang sôi réo và nước miếng ứa tràn đã thi nhau nuốt vội các câu chuyện.

Song ở quán nước, khi cái bụng của bạn đã êm, và nếu bạn có nhiều thời gian, bạn tha hồ từ tốn nghe chuyện.

Trước tiên, bạn nghe bằng tai. Chủ động hay thụ động, bạn cũng được nghe đủ thứ chuyện của những người ở đó. Người ta ra quán nước để trò chuyện là chính yếu, và cũng nhờ vậy, ngồi trong một quán nước ở xứ Bắc luôn khác hẳn quán nước ở phương Nam. Tiếng người khác, tông giọng khác, câu chuyện khác.

Tiếp đó, bạn lại nghe bằng miệng. Nghe câu chuyện về khẩu vị thức uống của từng mảnh đất một, kể ta nghe. Tôi hay thấy lạ khi người ta tranh cãi nhau về chuyện một món gì đó là CỦA vùng nào, vị GỐC phải ra làm sao, hay vùng nào nấu món này NGON hơn. Tại sao không phải là mỗi nơi một vẻ? Khi bạn đi nhiều và khoang miệng, gai vị giác của bạn được tiếp xúc với nhiều câu chuyện, tôi tin rằng bạn sẽ có sự cởi mở hơn với các hương vị. Đồng thời, bạn cũng sẽ biết bản thân mình hợp với phong vị nào nhất, để lui tới, để thuộc về.

Rồi, khi bạn đã ngồi ở trong góc quán đủ lâu. Vài tiếng, hoặc đôi khi vài ngày liền bạn thường quay lại, dần dà bạn sẽ thấy mình thành một mẩu nhỏ trong cái câu chuyện của xứ này. Dù bạn ở đây, hay từ nơi khác tới, một cái quán là nơi bạn dễ hòa mình và ghi dấu mình ở đó nhất.

Tôi có cho mình những quán quen ở Hà Nội, Hội An, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn… Những góc quán lưu giữ giùm tôi những câu chuyện.

Thế nên tôi tin rằng quán xá muôn đời thiết yếu. Từ cái hồi người Hà Nội đi bộ hay lóc cóc đạp xe, cho đến giờ xe hơi đã chạy đầy đường, chưa khi nào tôi thấy thành phố này thiếu vắng những góc quán cafe, quán trà, quán nước nói chung. 

Người dân muôn đời cần chuyện trò, kể cả là chuyện trò trong im lặng. Và không phải thứ chuyện có thể nói khi ở nhà. Không phải tách cafe hay tách trà ta dễ dàng pha. Đó phải là món nước người khác pha cho, theo cách của người ta, ở góc quán của người ta, xong mình ghé đến, ngồi xuống, một mình hay với bạn, và sẵn sàng trở thành một phần trong câu chuyện của muôn đời xứ sở.

Nhược Lạc 

cách một quyết định ra đời

Một quyết định ra đời khi bạn đứng giữa một ngã ba, hoặc ngã tư, hoặc ngã năm. Bạn cần phải chọn một ngã, và bỏ đi những ngã khác. Vậy, quyết định của bạn là gì? 

Dù là gì, thì cũng là chọn cái này, và bỏ đi những cái khác. Và luôn luôn, một quyết định được ra đời bằng sự tính toán – dù ta có biết là mình đang tính toán hay không. 

Những sự tính toán được diễn ra bằng cách dựa trên những kinh nghiệm mà ta từng có, cộng với suy luận, suy đoán và sự dứt khoát cần có. Câu hỏi càng khó, lựa chọn càng nhiều, thời gian càng gấp, thì càng khó chọn. Song, tôi nhận ra cái khó nhất trong việc đưa ra quyết định, chính là mình có bao nhiêu kinh nghiệm trong việc ra quyết định.

Nếu bạn càng có nhiều kinh nghiệm trong việc tự ra quyết định, và chịu trách nhiệm với việc đó; thì ở lần ra quyết định tiếp theo, bạn sẽ có nhiều mẫu cho não bộ nghiên cứu, rút kinh nghiệm, đưa ra giải pháp có phần sáng suốt hơn. 

Song, nếu bạn chưa từng, bạn là một lính-mới trong việc quyết định, mẫu số bằng 0, thì mọi lựa chọn đưa ra, dù đúng hay sai, đều chỉ dựa vào ăn may.

Tôi luôn nhớ về mình năm lớp 12, khi tôi buộc phải chọn nên thi vào trường đại học nào, tôi nhận ra là mình không biết. Mình cùng lắm chỉ có thể chọn dựa vào điểm số của mình, và lời khuyên của (rất nhiều) người xung quanh. Thậm chí, khi người ta nói rằng đại học không phải là con đường duy nhất, thì tôi và nhiều bạn học khác của mình, cũng không biết các con đường khác là đường nào. Chúng tôi, sau 18 năm rất ít khi được quyết định về đời mình, bỗng nhiên buộc phải đưa ra một quyết định cực kỳ to lớn. Ấy là chưa nói đến những bạn sau 18 năm vẫn chưa được đưa ra quyết định ấy, mà phải tiếp tục làm theo lời của người khác. 20 năm, rồi 24 năm sau cũng vậy…

Thật ra không phải tự dưng mà phụ huynh ít trao quyền quyết định vào tay con cái. Lý do là thường thì chúng nó hay làm sai. Hay ít nhất, là sai theo định nghĩa của phụ huynh. Khi bạn biết một thứ là Đúng, rồi bạn nhìn thấy người thân của mình đang đâm đầu vào một quyết định Sai – cảm giác đó khó chịu lắm. Vậy nên, người Đúng sẽ có xu hướng quyết định giùm người Sai.

Nhưng người ta có thể quyết định giùm nhau bao lâu trong đời?

Đến một lúc nào đó, khi đã mệt, người Đúng bỗng nhiên buông tay, và bảo: Giờ mày đã lớn, hãy tự quyết định về đời mình. Khi đó, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm chưa từng ra quyết định, người Sai bỗng phải đưa ra những quyết định. Bạn thử đoán xem chúng có sáng suốt hay không?

Vậy nên, giống như việc học từ thấp lên cao, việc đưa ra quyết định nên được học càng sớm càng tốt – khi cái đúng-sai của những quyết định còn khá vô hại. Như chọn ăn trứng hay ăn chả, ăn củ cải hay ăn cà rốt, ăn hay nhịn ăn, làm hay không làm. Tự chọn và tự chịu.

Con tôi đã tự chọn nhịn ăn khi cháu thấy mệt. Và chọn ở một mình vào ngày cháu không muốn nói chuyện với ai. Chọn mặc áo màu hồng kèm áo khoác màu tím, đeo nơ ở cổ, đi tất rồi đi xăng đan đến trường – tin tôi đi, trông kinh lắm. Chúng tôi dạy cháu đếm số, và cháu học hăng say đến số 30. Khi được hỏi có muốn học đếm ngoài 30 không, thì cháu bảo cháu chưa muốn. “Con thấy 30 là đủ rồi, còn lại để sau nhá.”

Thật ra tôi không biết gì về chuyện dạy con. Nhưng việc tiếp xúc gần với trẻ con cho tôi thấy nhiều bất ngờ mà trước đây tôi chưa biết. Một trong số đó là khả năng tư duy độc lập của trẻ con có được từ rất sớm. Tôi không biết chính xác nó sớm tới đâu, nhưng có vẻ nó không đến hoàn toàn từ quá trình dạy dỗ. Hai đứa trẻ sát tuổi, sống cùng trong một gia đình, hưởng thụ mọi thứ giống y hệt nhau, có thể hoàn-toàn-khác-nhau. 

Cách chúng suy nghĩ, hành động, cảm thấy, biểu thị… hoàn-toàn-khác-nhau. 

Vậy, cách chúng ra quyết định cũng sẽ hoàn-toàn-khác-nhau.

Thế thì, làm sao tôi biết cái nào là đúng cho đứa nào. Hay nói cách khác, làm gì có cái đúng nào. Chỉ có thể thử và sai và rút kinh nghiệp và thử lại và rồi lại sai, lại rút kinh nghiệm và thử lại. Và cứ như thế, cho tới hết đời.

Nói đến đây tự nhiên tôi lại nhớ ra rằng, có những người bố và mẹ thậm chí còn không được ra quyết định làm bố và mẹ theo ý mình. Họ cần phải ra những quyết định phù hợp với quan điểm của cả họ hàng nội ngoại, hàng xóm láng giềng, bạn bè gần xa, và cả xã hội. Nếu người bố và mẹ ở độ tuổi trưởng thành còn như vậy, một đứa trẻ phải làm thế nào?

Cách một quyết định ra đời, nên được hiểu là cách một người được chọn và được chịu trách nhiệm về điều mình đã chọn. 

Dù đúng hay sai, đó là cuộc đời của họ. Còn mình? Mình hãy sống cuộc đời của mình. 

Nhược Lạc

và mùa đông lại đến

Tôi sinh ra vào ngày lạnh nhất của mùa đông. Thật tội mẹ tôi, vượt qua cái lạnh cắt da cắt thịt, với bốn cái lò sưởi đặt quanh giường, và sinh ra một đứa con gái nhỏ, yếu, tim bẩm sinh và cực kỳ khó nuôi.

Bằng một điều kỳ diệu nào đó, tôi vẫn lớn lên từ từ, dù hơi còi. Sống được và lớn lên. Nhưng mỗi mùa đông đến, thay cho lời chúc mừng sinh nhật, lại là một lời cảnh báo với sức khỏe của tôi. Đủ thứ bệnh-của-mùa-đông như xoang, khớp, cảm lạnh… Sức đề kháng của tôi có thể chịu đựng ổn trong những mùa còn lại, nhưng mùa đông thì luôn đánh gục tất cả.

Vì điều ấy, cơ thể tôi đã luôn bật cảnh báo cho mình từ mỗi độ thu về. Giữ ấm cổ và lòng bàn chân. Thoa dầu trước khi đi ngủ. Luôn có máy sấy theo mình. Mỗi khi chớm lạnh, dùng máy sấy sấy dọc sống lưng, bụng, lòng bàn chân tới khi rịn mồ hôi. Ngâm chân và/hoặc ngâm mông đều đặn, lau khô người, nằm nghỉ. Uống trà, nước ấm trong ngày. Ăn canh ninh nhỏ lửa. Ăn cháo hoặc súp hầm trong những ngày mệt bụng. Khi đi xa, trong túi lúc nào cũng thủ sẵn vài món đồ-phòng-thân, như dầu tràm, bột sắn dây, củ sen, mơ muối…

Tôi làm tất cả những điều ấy, cặm cụi như một người già trước tuổi. Dù vậy, theo cách đó, tôi đã không còn sợ mỗi mùa đông đến.

Chỉ là, biết mình phải làm gì.

Đó có lẽ là món quà của tuổi trưởng thành,mà người ta vẫn gọi đó là: kinh nghiệm.

Rất khó để biết những điều ấy ngay từ đầu. Nếu chưa từng đau đớn mệt mỏi vì những căn bệnh dai dẳng, khó lắm để hiểu được một câu cũ mèm như: Có sức khỏe là có tất cả.

Những điều kể trên, có lẽ chỉ giống như lời càm ràm của người già, mà lũ trẻ luôn nhanh chóng nhận ra và bỏ chạy ngay từ tiếng thứ hai. Song, nếu người trẻ ấy từng có lần lâm bệnh nặng, hoặc đơn giản là yếu từ trong trứng, thì một cách hiển nhiên, nó sẽ biến thành lối sống.

Nếu không sống thế thì làm sao mà sống được.

Nhưng có những người không cần sống như thế. Tôi biết rất nhiều người khỏe mạnh. Họ mặc áo phông và quần đùi giữa mùa đông. Họ leo núi trong ngày bão. Họ chạy 10km, 15km ngay từ lần đầu xuống đường mà không cần tập qua. Họ ăn bất cứ cái gì trên đời cũng thấy hợp, thấy ổn, thấy không đau bụng, đau cổ, khó tiêu. Họ đặt lưng xuống giường là ngủ. Họ thức nhiều đêm không biết mệt.

Vấn đề là không ai biết trước mình là loại người nào, nằm ở điểm nào của sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Chỉ có cuộc đời, theo thời gian, là đưa đến câu trả lời.

Đó không phải kiểu câu trả lời rốt ráo và chắc nịch. Đó là kiểu từ tốn, rả rích, ngấm ngầm mang đến, ngấm ngầm đổi thay. Bạn không thể tìm thấy nó trong cuốn sách nào cả. Cuốn duy nhất tồn tại đáp án thì bạn đang viết. Viết đến đâu, biết đến đó.

Mỗi mùa đông đến, cái chuông báo trong người tôi vẫn réo lên từ khúc giao mùa. Nhưng đã không còn ầm ĩ, sợ hãi và căng thẳng. Nó chỉ kêu lên khe khẽ như một chiếc chuông đầu hè thấy gió, kêu để biết vậy thôi.

Và tôi từ tốn đặt lên bếp một ấm nước, pha một ấm trà. Thái củ cải, khoai tây hay cà rốt, củ sen, ninh cùng nấm, cùng rong biển, táo đỏ. Hòa nước ấm già ngâm chân.

Trong một giai điệu của sự thưởng thức, chứ không còn là điều cưỡng ép.

Nhược Lạc

nghĩ về chuyện cưới

Ngày này nhiều năm trước, chúng mình dắt nhau đi thử váy cưới, trong niềm hoang mang của hai đứa trẻ chưa biết gì về cưới xin.

Hồi đấy, lần đầu tiên chúng mình biết thế nào là cãi nhau. Buồn cười thay, ở bên nhau bao lâu chả to tiếng lần nào, nhưng động đến đám cưới một phát là ai cũng căng thẳng. Hồi đấy, mình đã đổ lỗi cho đủ thứ chuyện khiến mình phải làm cái này, phải làm cái kia.

Nhưng giờ, sau khi đi qua cái đám cưới năm đó đủ lâu, nhìn lại, mình chỉ thấy rằng: mình đau khổ phần nhiều là do chính mình….đau khổ. :))

Nghe trớt quớt vậy đó, nhưng thật ra, hồi ấy mình đã luôn muốn hơn, muốn khác đi. Mình tưởng mình muốn một thứ giản dị, nhưng thật ra mình làm phức tạp vấn đề. Mình tưởng mình đấu tranh cho cách sống mà mình muốn, nhưng thật ra chỉ muốn người khác theo ý mình, (trong khi lại không nghe ý của người khác). Mình tưởng, đám cưới là ngày của mình, nhưng thật ra không phải. Đó là một ngày, mà người ta muốn được gặp nhau, nhân dịp có hai người kết hôn, vậy thôi. Nếu hiểu và chấp nhận cái lẽ giản đơn này của văn hóa truyền thống, có lẽ mọi thứ đã dễ chịu hơn rồi.

Với cô dâu chú rể, đó chỉ là một ngày thôi. Cái thật sự đang chờ bạn là muôn ngàn những ngày về sau – hai bạn được ở bên nhau. Còn cái ngày mà bạn cần mặc đẹp và cười tươi kia, hãy chỉ mặc đẹp và cười tươi thôi. Và vậy thôi.

Những ngày này, mình nhìn thấy nhiều đám cưới đặc biệt: những đám cưới online, những đám cưới mà cô dâu chú rể đứng bên chốt chặn rồi quay về, những đám cưới hoãn lại vô thời hạn… Hẳn đây là điều không ai mong muốn cả. Nhưng vẫn xin nói rằng: đó chưa chắc là một điều tệ. Nó chỉ là một điều thôi.

Nghĩ về chuyện cưới, chỉ mong sau này người ta nghĩ về nó một cách bình thường hơn. Nó đúng là một dịp trọng đại, nhưng chỉ trọng đại với hai người trưởng thành – đang học một bài học lớn, là cách sống cùng nhau. Sự trọng đại đó, không thể thể hiện bằng quy mô, bằng cách thức, bằng hình thức, bằng những lời khen-chê hay những con số tiền mừng. Sự trọng đại đó âm thầm, như một hạt đậu vùi trong đất. Ai biết ngày sau sẽ nảy những gì.

Nghĩ lại ngày cưới, thì ngày cưới thực sự trong mình, không phải một tháng trời vật vã với chuyện cưới xin, mà là cái ngày chúng mình dọn vào ngôi nhà còn nồng mùi sơn mới. Mình đốt một ít bồ kết, vỏ bưởi để xông nhà cho ấm và tẩy mùi. Anh phát quang những bụi cỏ, trồng thêm một ít cây. Chúng mình dọn sạch cái hồ nhỏ ngoài sân, rồi đi mua một ít cá thả vào. Anh bắc một nồi cơm mới, mình cắm một lọ hoa mùi già.

Chuyện chỉ có vậy, mà thôi.

Nhược Lạc

cái lớn lao không bao giờ chạm đến

Khi tôi vừa ngưng lại chuỗi workshop mà mình theo đuổi suốt hai tháng trời, thì tôi lăn đùng ra ốm. Không phải kiểu ốm bệnh nặng nề gì, chỉ là mệt thôi. Tôi nằm suốt một ngày trời trong cơn mỏi mệt của thể xác, và, sự trống rỗng của tinh thần. 

Đây thậm chí là điều tôi đã biết ở những tuần cuối cùng – tôi biết mình sẽ rơi một chút, nên tôi đã chuẩn bị tinh thần bằng những công việc khác, dự án khác. Làm cho mình tiếp tục bận rộn, là cách mà tôi ứng phó với cơn rơi có thể dự đoán trước của mình.

Có điều, tôi vẫn cần rơi một chút. Hay nói đúng hơn, cần nghỉ một chút.

Như khi đi lên hay xuống cầu thang, đều có cái đoạn “chiếu nghỉ”. Hồi còn bé, tôi luôn đặt một dấu chấm hỏi với cái đoạn “chiếu nghỉ” đó – cái bậc thang đột nhiên to đùng ra, giữa bao nhiêu bậc thang nhỏ đều khác. Nó dùng để làm gì? – tôi hỏi. Và mẹ tôi nói: để người ta có thể bước chậm lại và nghỉ một chút, trước khi tiếp tục leo lên.

Bây giờ, khi đã lớn hơn, tôi nhận ra tầm quan trọng của bậc thang chiếu nghỉ. Tôi không cưỡng lại nó nữa, mà tôi bước chậm lại, thậm chí ngồi hẳn xuống, nằm hẳn ra. Có những bậc nghỉ tôi đã nằm ở đó hơi lâu. Thế rồi tôi vẫn đi tiếp.

Tôi quay về với công việc chính của mình, và với bản thảo của mình – cái bản thảo mà người ta đã giục tôi mấy tháng nay, và tôi cũng đã đi được 3/4 chặng đường rồi. Ấy thế mà, cái đoạn 1/4 còn lại bỗng trở nên khó khăn quá. Khó nhất là không chống nổi cái ý nghĩ về sự lớn lao không bao giờ chạm đến. 

Tôi biết mình sẽ luôn giỏi lên, bởi vì tôi không dừng lại. Tôi biết mình viết ngày càng hay lên. Ít ra so với mười lăm năm trước, tôi đã đỉnh hơn rất nhiều. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì sao?

Nếu như đã cố hết sức rồi, mà cũng chỉ tới chừng đó, còn người khác thì đã ở những tầm xa lắm rồi. Những cuốn sách hay nhất, những câu chuyện hay nhất, những bài thơ hay nhất – đều đã có cả rồi. Tôi cố gắng viết hay hơn, không chỉ hay hơn mình của ngày hôm qua, mà còn là hay hơn những thứ mình cho là dở – đang có nhiều ở ngoài kia. Nhưng nếu mình không làm được thì sao?

Tôi ngồi xuống và nhìn lại cái công việc viết lách mình đã làm nhiều năm nay. Nhìn xuống bản thảo tôi đã oằn oại cùng nó hàng tháng trời. Tôi nghĩ mình đã hơi rơi một chút, nhưng không sao, vậy mới cần những khoảng đệm lớn, những tấm chiếu nghỉ. Cần người bên cạnh ép cho mình một ly nước lựu, và ninh canh cho mình ăn.

Nghĩ lại thì cái buổi đầu quyết định làm chuỗi workshop 16 tuần, tôi đã biết ngay thế nào mình cũng sẽ gặp đủ thứ chập cheng, vì mình đã có miếng kinh nghiệm nào đâu. Nhưng vì liều, nên vẫn làm. Và vì đã làm, nên đã vui. Tôi đã có hơn 300 người bạn cả mới và cũ, cùng nhau đi suốt hai tháng – cứ đều đặn cuối tuần ngồi lại với nhau, nghe về một chủ đề nào đó mà không biết có hữu ích gì cho tương lai của mình không. 

Ở cái buổi cuối cùng, một bạn mới đã nói với tôi rằng: Sau hai tháng, em đã có thêm vài thói quen mới, như uống trà, chơi cờ vây, và thiền định. 

Thế là thành công rồi.

Cái lớn lao không bao giờ chạm đến. Như bầu trời trên bãi biển Sơn Trà, sau cơn mưa nở ra một dải cầu vồng thật đẹp – không bao giờ quay lại. Mơ hồ thật đấy, nhưng nếu ngày hôm đó tôi không sẵn sàng lao ra biển vào lúc năm rưỡi chiều, thì tôi đã không thấy được.

Cái lớn lao không bao giờ chạm đến. Nhưng cái nhỏ nhoi cũng vậy. Nếu như tôi không tiếp tục viết, hay làm về những cái nhỏ nhoi, thì chắc gì nó đã được chạm đến.

Tôi có câu chuyện muốn kể của riêng tôi. Và tôi kể, vậy thôi. 

Nhược Lạc

niềm vui không lời 

Hồi này, nếu có ai vô tình thấy tụi mình ở đâu đó, họ sẽ nói: “ê dạo này hai vợ chồng đều lên cân hả, trông đẹp trai, xinh gái hơn nhiều quá.”

Tụi mình sẽ gật gật cười cười, trước khi tìm cách lỉnh đi chỗ khác. Mình hỏi anh có thấy vui hơn hồi xưa không. Hồi trước hai vợ chồng gầy còm nhom, đi đâu cũng bị nói quá trời. Mọi người nhìn tụi mình như thể hai đứa bệnh tật hết hồi cứu vãn.

Anh nói là thấy bình thường. Người ta khen mình được thì cũng chê mình được, và ngược lại.

Cái ngoại hình đã là cái rất phù du rồi, mà lời nói của con người còn phù du hơn gấp bội. Người ta nói ra một lời rồi người ta quên ngay khúc đó. Nếu suy nghĩ của mình lại bám vào một cái bay nhanh như thế thì khổ lắm. 

Dù là khen hay chê, bản chất thực ra không khác gì nhau. Nó chỉ thể hiện một điều là: người ta muốn mình sống giống như cái người ta tin là đúng.

Có lẽ điều đó khiến con người ta thấy an tâm sống hơn.

Nếu gặp một ai đó sống quá khác họ, trong lòng họ sẽ thấy bất an. Sao nó lại sống như thế? Nếu nó sống như thế – là đúng, vậy có khả năng mình đang sai? Không được, phải bảo nó cho nó thay đổi đi. 

Nhưng chuyện đấy có lẽ xảy ra khi cái vòng tròn sống quanh mình còn nhỏ quá. Mình gặp toàn những người sống giống mình, nghĩ giống mình. Nên khi gặp một người sống chệch đi, mình không chịu được.

Nếu cái vòng tròn sống của mình được mở rộng ra, gặp quá nhiều kiểu người khác nhau trong đời sống, thì khi gặp một người khác – đó chỉ đơn giản là một người khác.

Quay lại cái chuyện ngoại hình trên kia, hồi mười mấy tuổi, nếu được khen xinh chắc mình sẽ sung sướng lắm. Hồi đấy còn hoang mang nhiều, nên một lời khen sẽ cho mình có thêm động lực. Nó có nghĩa là mình đang đúng. 

Sau nhiều năm, lạ ghê, mình không còn thấy sướng nữa. Có lẽ vì mình đã có cái sướng khác.

Cái sướng của việc ăn một bát mì với nước dùng rau củ có thêm lát gừng vào mùa thu. Cái sướng của việc được ngồi trong chậu ngâm nước nóng già thơm mùi thảo mộc, xong rồi lau khô người, ra ngoài nằm ngủ một giấc thật sâu. Tỉnh dậy thấy cái lưng đã đỡ đau nhiều.

Những cái sướng không ai có thể biết đến và khen được. Những cái sướng không giãi bày ra được. 

Nhưng mà êm ả và vững chãi. 

Nhược Lạc

trung thu

Trung Thu năm nay, bạn có gì?

Chúng mình có cái may mắn của người có bánh, có trà, có nhà để ở yên. Xin được vui với niềm nho nhỏ ấy trong những ngày mùa thu thật đẹp.

Trăng đã rất đẹp từ độ mấy ngày nay, đến đúng rằm hẳn sẽ càng đẹp lắm. Rất hợp để bạn đun một ấm nước mới, sắp ấm chén, chọn trà, cắt bánh.

Bánh trung thu hợp vị lục trà, hoặc hồng trà. Chúng mình vốn uống trà vị nhạt, nhưng khi ăn cùng bánh sẽ pha hơi đậm lên một chút.

Nhâm nhi từng miếng bánh, nhấp một ngụm trà, thấy nhớ lại hôì lên năm, lên ba – hồi còn nhỏ và cái gì cũng là một niềm vui.

Mẹ mình lấy cuộng rau muống già, xếp đều nhau và xiên ngang bằng que tăm giữ lại – làm thành chiếc bè thả trôi. Bố mình lấy cái hộp bột giặt cũ bằng nhựa, đục thêm vài cái lỗ, thắp cho cây nến, vậy thôi mà sung sướng xách đi khắp nơi.

Nhưng khoái nhất vẫn là cảm giác mình là người đặc biệt – người trăng theo. Người duy nhất trăng theo. Dù anh mình cũng khăng khăng rằng trăng đi theo anh ấy mới phải. Nhầm rồi, đồ ngu ngốc. 😃

Bây giờ đã lớn lắm rồi, nhưng trăng vẫn đi theo mình. Trung thu vẫn còn có bánh, và trà, và người ngồi cạnh, và giọng trẻ con hát cho nghe.

Niềm vui, luôn đến theo những cách khác nhau, mà nếu ta quá luyến lưu một niềm vui cũ, ta sẽ nhỡ mất một trời vui mới.

Nên ngày nào còn thấy trăng, thì ngày đó ta còn ngắm thôi.

Nhược Lạc