im lặng đi trong mưa

im lặng đi trong mưa
không trách trời quá vội
cơn giông về nóng hổi
sầm sập sầm sập sầm

chỉ muốn gặp bầy mưa lâm râm
nhỏ tí tách từng giọt đàn lên đất
chỉ muốn làm một cây cỏ thật
mềm, xanh, tươi, mướt, nhỏ và vui

im lặng cúi đầu,
ngày vùi mình trong rơm rạ
ba sáu tiếng mở ra, chắc là thơm sực
nỗi thơm rưng rức đủi đen

im lặng nhá nhem,
buổi chiều bỏ ngỏ
vầng trăng xéo xọ
bập bênh bập bập bênh

im lặng chênh vênh,
trái tim ta không biết nghĩ
bàn chân ta thì muốn nghỉ

quán trọ kế còn năm cây

im lặng đi trong mây
toàn âm tiếng đã trôi vào quá khứ.

Nhược Lạc

tôi đi vệt dài trên phố vắng

tôi đi vệt dài trên phố vắng

nắng đã đi qua, qua tôi từ lâu
gió đã vui sâu, những sầu qua đủ
con đường quy củ, lao xao lá rụng đầy

tôi đã đi qua mây, mây ở lại bồng bềnh mơ nhớ
nước chảy trên mái hiên tuổi thơ
ly nước đá đổ mồ hôi
hồi ấy, ngón tay còn in lại

tôi đi qua đồi thông mộng sải
se sắt nói gì mà sóng mắt lung lay
rượu ngon vừa kịp rời tay
đã thành tàn ức muộn ngày bỏ đi

đi qua một tách thiên di
một ly trà thở, một thì thầm mưa

tôi đi qua một đoạn chờ
chuyến xe cuối chạy,
mới vừa năm giây.

chỉ còn mình,
một tôi đây.

Nhược Lạc

đêm Hà Nội không bao giờ rụng lại

đã từng có thời, mùa đông rụng xuống
lạnh mướt bàn tay em
cái lạnh luồn sâu vào túi áo anh, ống tay, viền áo gió
cái lạnh thắp lửa cánh mũi nhỏ
ru ri chuyện của tách trà

đã từng có thời, phố thở những mùa hoa
đoạn đường anh đi, từ quen thành lạ
cái ngõ hút sâu,
anh nhớ từng ô gạch vỡ trên tường

đã từng có thời,
đêm Hà Nội vẽ những vết thương
rồi dịu mát xoa bằng lời yêu khác
đã có thời,
mỗi khung cửa – một khuôn nhạc
mỗi lá xanh – một nốt họa mi

đã từng có thời, trái tim sống mộng thiên di
nhưng đêm ấy không bao giờ sống lại
mãi mãi phố bình minh đông vậy

chỉ riêng đêm hôm ấy, 

giọt sương đơn


đêm Hà Nội không bao giờ rụng lại.

Nhược Lạc

chuyển

mỗi lần chuyển nhà – một lần nhìn ta
ngộn đồ đạc định nghĩa trời ký ức
ta đứng giữa một thăm sâu mép vực
biết bắt đầu từ đâu?

mỗi lần đóng gói – một lần xếp tim nhàu
một lần Hà Nội chuyển mùa quá vội
mưa xuân giữa gió đông diệu vợi
phơ phất nắng hè giữa vệt thu thay

mỗi lần rời đi – một nguyện cầu may
đoạn đường tới mong hiền hòa những cỏ
mong nắng se, mưa nhẹ, trời ngoan gió
mong bàn tay còn nắm một bàn tay

mỗi lần một phiến cỏ may
mỗi lần một mùi hoa sữa
mỗi lần một ô cửa nữa
mùi sơn mới lại từ đầu

mỗi lần ta chuyển đi đâu

tim đập nhịp sẽ sàng sống mới.

Nhược Lạc

anh lách tách lửa đêm chừa lại

núi ru ri ngủ, núi không mơ
cây đứng vậy, cây đứng chẳng chờ
đêm xuống sương rơi, hơi chậm vậy
chỉ một mình em dưới chân mây

chỉ một mình em, lúa thơ ngây
hoa li ti trắng nụ mật đầy
tuyết trà phai trắng ngày đông dậy
lách tách lửa đêm, anh ở đây

thơm gỗ pơ-mu, thơm mục củi
lục bục xanh trà, đêm nhớ ra
em là hơi thở anh chờ đợi
một giọt sương – quà nơi phố xa

em là cây dốc xanh chờ rụng
anh là khuôn kiếp giữa mông lung
em là sao ấm đêm trảy hội
anh chờ lách tách một hơi đông

em cứ yên lặng – ngồi, như thế
đêm sẽ chừa anh một giấc mê
em sẽ chừa anh ngàn chuyện kể

một ngàn thơ,
lệ,
một ngàn thu.

Nhược Lạc

tựa hôm nay, ngày mật hái thu

như chiu chắt từ ngàn ước lệ
khi mây còn sũng nước dây phơi
tâm trí em hẵng ở một nơi
lưng lưng sóng giữa đại ngàn vô tận

như rừng ẩm rễ len đất bật
đóa cúc hoa không hẹn ngày bung
như đông tàn không hẹn hết mông lung
mà bừng nở khôn cùng, bình minh tới

như trăm vạn ước ao diệu vợi
bầy én hôm qua giật mình cánh bay

khung cửa sổ thảng thốt heo may
tờ thư cũ bỗng đến lời hiển lộ

như một ngày xé tan nỗi khổ
tựa hôm nay, ngày mật hái thu
bàn tay anh nảy điệu hát ru
khe khẽ chạm vào da em mát chảy

như thể hẹn từ muôn kiếp vậy
sóng bập vào tung bọt xóa đời nhau.

Nhược Lạc

thi đua rơi

đã có thời tôi nhìn những hạt mưa
đua tranh không hồi kết

hết mưa vừa lại nắng
những hạt nắng tranh nhau
lấp lánh trên lá nâu
hay rụng xuống bể nước mùa hạ

những bông cơm cháy thật lạ
thi nhau rụng xuống lề đường
vầng mây ẩm ương
thi nhau che đậy bầu trời xấu hổ

trái tim tôi che nỗi khổ
sợ thua trên đường an vui

đã có thời những phút ngủ trôi
thi đua giờ kết thúc
khi tiếng chuông báo thức
reo lên kết thúc tranh tài

đoạn đường mười cây số dài
thi xem ai tới trước
chiếc máy quẹt vân tay đếm được
bao người thắng cuộc hôm nay

đã có thời, tôi ăn may
đã có lúc, tôi tưởng mình sáng dạ
nhưng cuộc đời thương quá
luôn luôn gõ kẻng chiều hôm

trên tường, huân chương hắt nắng
bắt đầu đua cuộc rỉ hoen
giọt nước trên má lem nhem
bắt đầu đếm từng vụn vỡ, mộng mơ, thờ ơ, lỡ ngỡ..

đã có thời tôi nghĩ từng nhịp thở
tự túc đếm mình trong mỗi khắc ung dung.

Nhược Lạc

Suy nghĩ về Thơ

Trần đời tôi chưa từng gặp ai nhận mình hay đọc thơ, kể cả các nhà thơ.

Mỗi khi tôi đọc một bài phỏng vấn một người viết, đặc biệt tác giả (có viết) thơ. Phóng viên sẽ hỏi: “Bạn có hay đọc thơ không? Bạn yêu thích tác giả thơ nào? Bài thơ bạn thích nhất là gì?”

Người được hỏi, sẽ bắt đầu bằng câu trả lời thế này: “À, thật ra tôi không hay đọc thơ.”

Sau đó, để chiều lòng độc giả, họ cũng sẽ cố gắng kể ra một vài cái tên, và đọc hai câu thơ mà họ cho là cũng ổn. 

Tất nhiên, những trường hợp kể trên không thể đại diện cho cả Việt Nam được, chứ đừng nói rằng nhân loại. Nhưng nếu như tôi gặp trường hợp ấy rất thường, thì hẳn nó cũng mang một ý nghĩa gì đó?

Nếu không ai hay đọc thơ, kể cả những nhà thơ, vậy thì ai sẽ đọc thơ? 

Tôi có đọc thơ. Không biết nếu đặt lên bàn cân, cùng các thể loại khác, thì tôi sẽ đọc thơ nhiều hơn, ít hơn hay ngang bằng. Song, quả thực, tôi không nghĩ đến chuyện đọc thơ hàng ngày. 

Hàng ngày tôi đọc báo. Kế đó, tôi đọc email. Tôi đọc một số sách chuyên sâu về truyền thông, dịch vụ, dinh dưỡng, ẩm thực – thứ phục vụ cho công việc hiện tại của tôi. Tiểu thuyết, truyện dài – thứ mang đến cho tôi những câu chuyện, những nhân vật mới, đời sống của họ – thứ kể tôi nghe.

Nhưng thơ không kể tôi nghe. 

Khi đọc một bài thơ, có thể tôi sẽ chẳng hiểu gì. Não tôi không hoạt động theo lối phân tích, như khi đọc “Sapiens: Lược Sử Loài Người” của Yuval Noah Harari. Tôi cũng không bị hút vào, đau đáu và suy tư, như khi đọc “Alexis Zorba, con người hoan lạc” của Nikoz Kazantzakis.

Thơ, giống như một hạt mưa, rơi xuống vào lúc ta không để ý. 

Ví dụ:

“dưới cánh bướm mùa thu
về đậu vách tường đêm
những cánh rừng yên ngủ”

(Phía khác – Nguyễn Đức Tùng)

Hoặc ân cần cất giọng lúc thưa người:

“những lời cũ kỹ
một trời thu để nhớ nhung
chuyện đời giản dị
chiêm bao tay nắm vô cùng ngón tay”

(Chiều hôm phố thị – Bùi Giáng)

Tôi nhận ra mình thường đọc thơ lúc lòng tha thiết quá mà không muốn nói, hoặc không biết phải nói gì. Cần có điều gì đó, ngắn gọn mà rộng lớn, bao la mà gom góp lại vừa lòng tay, để ta đặt mình vào đó ngồi nghe.

Thơ không cố kể một điều gì, dù trong đó, đôi khi ta nghe ra một câu chuyện. Song, mỗi người lại có thể nghe ra một chuyện khác nhau.

Khi Trần Dần hỏi:
“em ơi!
ai xui nhà ươm chín mái?
tơ ngâm chín vại
dâu xanh chín bãi
tằm ngã – chín nong..”


thì ta cũng không biết trả lời (mà cũng không cần trả lời), nhưng ta vẫn ở đó, để trải lòng mình, cùng tất thảy những nét cảnh mà nhà thơ vẽ ra. Từ hồ chín lá sen, từ còi tầm chín ngả, từ chín ngã tư mưa.

Tôi cho rằng, cũng vì sự không cố kể, mà thơ ca vốn có khoảng cách nhất định với đời sống. Ngay cả những bài thơ rất gần với đời, thì vẫn luôn chừa lại một khoảng: để bạn đọc thơ bằng câu chuyện của riêng mình.

“ước gì mưa mãi chẳng tan
để cho sấm cứ râm ran khắp trời
để cho em nép vào tôi
ôm chung một giọt mưa rơi xuống lòng.”

(Phố Nối mưa rào – Đồng Đức Bốn)

Câu thơ của người khác vang lên, mà lập tức lòng ta vơ vào thuật lại. Ai đọc lên mà không nhớ ngay một lần nào đó, đã cùng “em” đứng dưới hiên ngắm một trận mưa lớn – dù là mưa tưởng tượng, để “ước gì em nép vào tôi”.

Với tôi, mỗi bài thơ cũng là một bài nhạc – chúng có âm điệu riêng. Dẫu vậy, khó cảm hơn một bài nhạc.

Trước hết vì một bài nhạc đã có người làm nhạc, người hát xử lý giùm người nghe. Khi nghe, ta chỉ việc nghe nhận bình thường bằng tai. Cái dẫn, cái nhấn nhá, truyền cảm, người nghệ sĩ họ đã làm giùm ta hết cả. Như có chai rượu ngon trong tay, người thưởng thức chỉ việc rót ra ly rồi uống.

Còn một bài thơ có thể ví như một gói trà, gói cà phê. Nhận quà trong tay nhưng chưa uống ngay được. Phải có ấm, chén, tống, có bình, có phễu V60, có phin… Phải có thời gian, phải biết cách pha. Nhiêu khê hơn, và không chắc pha ra đúng ngụ ý của người sơ chế, người rang hạt, người sao trà. 

Một bài thơ khi nhận về, bạn có thể đọc bằng mắt, hoặc bằng miệng – và cảm giác chúng mang lại sẽ khác hoàn toàn. Thậm chí, mỗi lần đọc, bạn sẽ nhận ra mình đã ngắt nghỉ khác nhau, mình đọc bằng giọng khác nhau, bằng tâm trạng khác, góc nhìn khác, lứa tuổi khác. 

Nói cách khác, một bài thơ được tác giả viết ra, nhưng người đọc mới là người pha và thưởng thức. 

Tôi thì tin vào sức mạnh của thanh âm, cũng như tin vào việc một bài thơ nên được đọc lên thành tiếng. 

Trong quá trình thực hiện hai “đêm thi-ca” tại Hà Nội và Sài Gòn, tôi nhận ra nghệ thuật nào cũng cần một không gian được tạo dựng riêng biệt cho nó. (Hỏi sao phải cần đến phòng tranh, sân khấu nghệ thuật).

Ở đêm thi-ca, tôi chủ đích dựng nên một bối-cảnh-thi-ca. Mỗi vị khách tới đó, trên tay cầm ly rượu nhẹ, thảnh thơi ngồi xuống, chầm chậm lắng nghe từng bài thơ vang lên. Giọng nói cất lên thứ tiếng mẹ đẻ thân thuộc. Họ không vừa ăn cơm vừa nghe. Họ không vô tình nghe khi lướt mạng xã hội. Họ không nghe 30 giây. Họ nghe suốt hai giờ đồng hồ, trong sự tập trung hướng về sân khấu, hướng về thế giới của thi-ca.

Khi đó, người ta không chỉ nghe một bài thơ. Người ta nghe một cảm giác thơ. Một không gian thơ. Người ta chủ động tìm đến đó vì muốn nghe. Thế nên, người ta nghe.

Vậy bây giờ, thơ sẽ dành cho ai? Ai còn muốn đọc, muốn nghe thơ?

Tôi nghĩ rằng sẽ luôn có “ai đó” cần đến thơ, dù họ có biết điều đó hay không. Thơ đến vào ngày ta chẳng đợi.

Thơ đến, có thể vào lúc ta đã gõ các cửa, đã thử nương vào những sợi dây khác mà bất thành. Ta cần một tiếng nói thoát ra, nhỏ – ngắn, mà dõng dạc. Tiếng nói tâm tình. Tiếng nói gọi dậy. Tiếng mở cửa cho lòng tràn ra như biển. Tiếng líu ríu chim non hót lại. Tiếng giản đơn loài người muốn nghe.

Chừng nào ta còn sống, còn nhiều xúc cảm, nhiều nghĩ suy trong đầu, chừng đó, thơ còn cần thiết. 

Nhược Lạc

phố thầm âm

căn nhà ngày xưa tôi ở
bây giờ đã đổi chiếc rèm
ô cửa ngày xưa vẫn mở
bây giờ khép đóng cài then

khu tập thể sân giòn giã
nắng lên ba chạy lon ton
bây giờ loang mưa ướt trắng
không còn nghe giọng véo von

trên phố chẳng còn xe chạy
tôi quên Hà Nội mất rồi
tan tầm chẳng còn ai vội
đèn đường nhảy số bình vôi

tôi soi gương chẳng còn thấy
một hồn trôi giữa trời mây
phở sáng có mùi gì vậy
cà phê, trà đá nhớ bầy

trăng soi lại ngày phố trẻ
tóc từng vương bụi lâm râm
mắt còn mơ đêm bước chậm
rộng lòng giữa phố thầm âm. 

Nhược Lạc