chiếc hộp vụng về ấy cùng đám ruy băng phiền toái đã trở thành phiến quân phản loạn đày ải trong trái tim anh
có lẽ bản nhạc ca tụng dòng sông xanh đã chép sai một vài nốt đã muộn màng nhịp chân thưa thốt lệch khỏi chân bước của đời nhau
có lẽ thời gian là một mệnh đề đến sau và chân thành chỉ là trò cá cược em sẽ chẳng biết mình thua hay được cũng như em là người nói dối trước rằng em vẫn ổn đấy mà
có lẽ ở một hành tinh xa hẳn vẫn còn lưu trữ về hạnh phúc anh sẽ gặp được chúng qua lời chúc ngọn gió đêm mang theo tiếng nói em
và một miền ký ức êm đềm mà trong đó anh và em còn trẻ
Nhưng có rất nhiều khoảnh khắc trong cuộc đời, tôi đã nhìn thấy tình yêu chạy qua trước mắt mình, như một thước phim chiếu chậm. Những hình ảnh (không hiểu vì sao) đáng nhớ, lặp lại nhiều lần trong trí nhớ tôi, có lẽ mơ hồ phản ánh phần nào quan điểm của tôi về tình yêu. Dù tôi, chưa bao giờ, nghiêm túc ngồi lại và tự hỏi mình: chúng là gì?
Hình ảnh đầu tiên là lúc tôi gặp hai người bạn của dì Liên tôi, vào một ngày mùa đông Hà Nội. Họ ngồi nơi góc bàn trà, trong nhà ông bà ngoại, đưa cho dì tôi một tấm thiệp màu đỏ. Hôm đó hẳn phải là một ngày rét ngọt, vì mọi người đều mặc nhiều lớp áo, và bên ngoài nhất định là một chiếc áo phao to sụ. Nhưng tôi chỉ nhớ màu áo len của cô gái sắp làm đám cưới hôm đó: cô mặc áo len đỏ – cùng màu với chiếc thiệp vừa đưa cho bạn mình. Hai gò má của cô cũng ửng đỏ một cách diệu kỳ.
Dì tôi lúc đó vẫn chưa lấy chồng. Hẳn trong câu chúc mừng của dì hôm đó, vừa có lòng cầu phúc cho bạn mình, và cả cái gì đó gần với sự ấp ủ, cho hạnh phúc của riêng mình.
Tôi được gọi ra, để chào người lớn, và được nghe lỏm những câu chuyện hấp dẫn. Tôi chỉ còn nhớ được đó là hai cô chú ấy quen nhau trên mạng. Cháu có biết thế nào là trên mạng không? Tất nhiên tôi biết làm sao được. Mãi nhiều năm sau, khi lần đầu tiên cầm mấy tờ tiền lẻ ra quán net, tôi mới hiểu quen một người qua mạng là như thế nào. Và như thể một lời nguyền ngọt ngào và cay đắng, sau này tất cả những người bạn thân thiết nhất, những người yêu dấu nhất, những tình yêu đau đớn nhất, của tôi – tất thảy đều từ mạng mà ra.
Thế mà tôi vẫn chẳng biết gì về tình yêu.
Nhưng tôi vẫn nhớ cô bán hoa ở đầu chợ Vĩnh Tuy. Cô bán hoa hồng, hoa cúc, hoa ly và nhiều loại hoa khác. Rất đắt hàng vào mùng một, hôm rằm. Còn tôi chỉ thích mua hoa của cô vào một ngày bình thường, về để cắm vào cái lọ, đặt trên bàn sát bên cửa sổ. Chồng tôi, một người Hải Phòng, bảo tôi rằng, tôi đúng là một cô Hà Nội.
Một cô Hà Nội thì dù nhà nhỏ và nghèo tới đâu, trong nhà cũng phải có một lọ hoa. Tất nhiên phải hiểu rộng ra đó là một lọ hoa ẩn dụ. Lọ hoa ấy có thể là ba bông hồng phơn phớt và thơm nhè nhẹ. Cũng có thể là những đĩa CD tôi giữ rất lâu, hay rất nhiều sách vở cũ mèm – dù cho qua bao nhiêu đợt mưa ngập. Và những trang viết, và những bài thơ. Thành phố nơi tôi sinh ra đã khác đi quá nhiều, nhưng tôi vẫn là một cô Hà Nội sến, hay mua hoa về cắm, viết lách và làm thơ.
À đang nói về cô bán hoa cơ mà. Cô luôn cười rất tươi. Cô cười duyên hơn cả những bông hoa. Tôi cũng cười với cô, và tôi nghĩ rằng ừ cuộc sống dù có nghèo khó một chút nhưng nếu ta có hạnh phúc thì tại sao lại tiếc gì nhau những nụ cười. Mãi sau tôi mới biết cô có một người chồng bệnh tật, và những đứa con, và đôi tất của cô đã thủng nhiều ngón vốn chả có tác dụng gì khi mang giữa trời mùa đông Hà Nội.
Tôi nào biết gì về tình yêu.
Từ nhỏ đến lớn, tôi đã nghe người ta nhắc đến nhiều từ khó hiểu khác, như lòng người, tình nghĩa, sự vô thường, nỗi đau. Tôi đã hiểu cả ly hôn và chia tài sản, thế mà tôi vẫn chẳng hiểu gì về tình yêu.
Nhưng tôi vẫn nhìn thấy tình yêu qua cách bà Dừa tôi lau ảnh ông Hùng hàng chục năm từ ngày ông mất. Qua những bức thư của rất nhiều những người yêu nhau trên đời này, mà vô tình tôi đọc được. Chính tôi cũng viết rất nhiều thư, phần lớn trong số đó nên được đốt đi rồi, khổ thân những người đã từng nhận cái gì đó từ tôi.
Tôi cũng hay nhìn thấy tình yêu qua đồ ăn. Ở Hà Nội, mà nhất là mùa đông Hà Nội, thì không có gì hợp để tỏ bày tình yêu cho nhau hơn những xôi xéo, khoai lang, ngô nướng, cháo sườn, bánh mì pate, bánh rán, phở bò, phở gà, quẩy, ô mai, và thậm chí là kem.
Tôi cũng nhìn tình yêu qua những hàng cây và những vỉa hè. Những bước chân mà chúng tôi đi qua, tác động một lực lên mặt đất, trong lúc không ngừng nói những điều nhảm nhí. Gió bay rối tung hết mái tóc bù xù của tôi, và của người đi bên cạnh, nhưng chắc chắn không có gì trong số đó rối bằng trái tim của chúng tôi lúc ấy.
Tình yêu đến trong một cơn gió cuốn ngẫu nhiên một hạt bụi bay vào mắt, để bạn đưa tay lên dụi bất kể mọi nỗ lực truyền bá y học thường thức đều nói rằng bạn không nên làm thế, nhưng bạn vẫn làm thế. Để rồi khi mở mắt ra, bạn đã nhìn thấy một cuộc đời mới. Đừng chửi thề nhanh quá, để tôi nói cho bạn biết, tóm lại là bạn đã yêu.
Octavio Paz, một nhà thơ người Mexico, đã viết một bài thơ thế này:
Perhaps to love is to learn to walk through this world. To learn to be silent like the oak and the linden of the fable. To learn to see. Your glance scattered seeds. It planted a tree. I talk because you shake its leaves.
Có lẽ yêu là học cách bước đi giữa thế gian này. Học cách im lặng như cây sồi và cây đoạn trong ngụ ngôn. Học cách thấy. Ánh nhìn của em gieo hạt. Từ đó mọc lên cây. Anh lên tiếng bởi em lay vòm lá.
*
Rốt cuộc thì, ai bảo ngày hôm đó em đã lay vòm lá, để cho anh lên tiếng. Để cho chúng ta thấy. Một điều mãi mãi thay đổi cuộc đời mình. Dù cho biến mất, dù cho đau.
Rất lâu rồi tôi mới ngồi trong một cái quán cà phê để làm một cái việc xa xỉ đấy là uống cà phê và đọc một cuốn sách. Không gặp ai và cũng không có ai gặp mình, thế thì tôi ra quán để làm gì. Nhưng tôi vẫn muốn thử ra xem sao. Xem nó như thế nào.
Kể từ năm 2016 đến giờ, cuộc đời tôi lúc nào cũng là một chuỗi những sự tranh thủ. Tôi tranh thủ làm cái A trong lúc đang làm cái B và nếu có thể làm thêm cái C nữa thì tuyệt. Tôi tranh thủ đến mức tôi cho con bú trong lúc đang họp online, và viết bài trong lúc uống trà, và mỗi lần hẹn bạn đi cà phê thì tôi phải đảm bảo mình có thể tranh thủ gặp ít nhất 3 người trong một lần bước ra quán.
Hôm trước tôi đã ngồi đếm xem khoảng bao lâu thì điện thoại mình rung lên một cái. Kết quả là khoảng 45 giây. Đó là tôi đã tắt đi tất cả các loại ứng dụng vặt vãnh khác, tất cả các thể loại app social không được phép rung lên trong máy tôi. Không có tiếng chuông nào được phép reo lên, kể cả đó là một cuộc gọi khẩn cấp. Chỉ có những cú rung trượt dài, đối với những cái app và những cuộc gọi mà tôi không thể tắt được, chủ yếu là dành cho công việc. Thế mà nó vẫn là 45 giây. Từ thứ Hai đến Chủ Nhật, 24/7. Lần gần nhất tôi thấy một cái noti nhảy lên đó là lúc 3 giờ 42 phút sáng. Tôi tỉnh dậy sau một cơn mê dài, nhìn vào màn hình điện thoại, thấy những thứ nhảy nhót trong đó, nhưng không nhấn vào, mà ngủ thiếp đi.
Nhưng tôi đã gần 40 tuổi rồi. Ở độ tuổi này, tôi cảm thấy mình cần phải sống khác đi một chút. Mỗi ngày một chút. Thế nên tôi bắt đầu thử tắt hoàn toàn notification của điện thoại, trong 1 ngày, xem sao. Tôi ngồi suốt 40 phút mà không có bất kỳ cú reo nào từ máy mình. Tôi ra một cái quán mà không phải để gặp ai, chỉ để đọc cho xong cái cuốn sách mình đã ngâm hơi lâu. Sau 3 tiếng, tôi mới chui lại vào trong những cái app, để đảm bảo mình không bỏ lỡ thứ gì quá quan trọng. À, một vài thôi, và trong số đó, những người cần tôi nhưng không thấy tôi trả lời, cũng đã chủ động bốc máy gọi. Thế là tôi nhận ra đó có thể là một màng lọc mới. Những tin nhắn có thể đợi tôi, nếu không thể, nó sẽ tìm đến tôi bằng những cách khác. Tôi không cần phải luôn available 24/7 với bất kỳ ai, như thế nữa.
***
Lâu rồi tôi không uống cà phê. Hồi xưa tôi uống vì thấy ngon, tôi vốn là người thích tìm thấy vị ngon trong những món đồ ăn, thức uống được chế biến khéo. Sau đó tôi uống, bởi vì tôi làm việc trong một cái ngành, mà nếu không có caffeine, thì chắc không thể trụ được. Sau đó tôi dừng lại, cả công việc và cả cà phê, để tìm cho mình một điểm cân bằng mới. Tôi bây giờ đã không còn cần cà phê chỉ để sống được qua từng ngày nữa. Nên rất lâu rồi tôi mới uống lại một ly cafe coconut, và ngạc nhiên thay, nó khá ngon.
Khi ta không cần cái gì đó đến mức mà thiếu nó ta không sống nổi, thì bỗng nhiên nó lại hiển hiện trở lại, bằng vẻ đẹp ngày xưa mà ta từng thấy nó. Một vẻ đẹp nguyên bản đặt ngoài tham vọng sở hữu.
Ở độ tuổi của tôi bây giờ, người ta gặp nhau là phải nói về những gì ta đã làm được và đạt được. Tôi về cơ bản thì chẳng có gì. Hoặc là có rất nhiều. Nhưng cũng chẳng có gì. Mọi thứ luôn luôn như thế, dù là vào năm nào và tôi đang ở đoạn nào trên đường đời của mình, vẫn luôn có những người nhìn vào và thấy rằng tôi đang có rất nhiều hoặc rất ít, tôi rất sướng hoặc tôi rất khổ. Nhưng có lẽ rằng không điều gì là đúng cả. Tôi chỉ sống thôi. Cứ sống rồi sẽ sống.
Cuốn sách mà tôi đang đọc, dù không quá hay như kỳ vọng, nhưng cũng được. Đây là tác giả mà tôi thích, nên dù anh ta có viết cuốn này không hay bằng cuốn trước (theo chủ ý của tôi), thì cũng kệ. Anh ta chịu viết xong lại chịu in ra, cho tôi và nhiều người khác có cái để đọc, là may lắm rồi. Còn để viết hay hơn, hoặc để tạo ra một kiệt tác, cái đó đôi khi không phải do anh ta muốn mà được.
Phải có một ngôi sao ở trên trời rớt xuống, và vào đúng cái lúc đấy, anh phải có ít nhất một tay rảnh để đỡ lấy. Nếu không có ngôi sao nào chiếu vào đời anh, vậy thì thôi anh hãy cứ sống tiếp như thường lệ, đi làm đến 7-8 giờ tối rồi về nhà, và nếu anh có một gia đình để ăn cơm chung thì quá tuyệt, còn nếu không thì ministop có những suất cơm sẵn khá ok. Nhưng tệ hơn, có lẽ là khi ngôi sao chiếu vào đời anh thì anh chẳng có bàn tay nào để đưa ra hứng lấy – cho dù đó là một bàn tay chẳng chịt những đường sứt sẹo.
“Hôm nay anh không sao, nhưng cho anh khóc từ ngày mai…”
Một cậu kia đã viết nhạc như thế, và không hiểu sao mỗi lần nghe cái bài đấy thì tôi lại cảm thấy mình đã khóc xong từ hôm qua rồi. Từ hôm nay trở đi thì chỉ còn cách phải sống tiếp, với cả hai bàn tay. Và thỉnh thoảng phải tìm ra cách để thả bớt những thứ từ một bàn tay xuống. Nếu khó quá thì một ngón, một ngón tay thôi? Ít nhất phải còn một ngón tay để còn chỉ trăng chứ?
Nhưng ngón tay của tôi đã gập đi đâu và đã dùng để làm những gì, ngoài việc liên kết với những ngón tay khác và di chuyển không ngừng trên bàn phím, trên màn hình điện thoại. Một chuyện đơn giản như một ngón tay để luồn xuống trang sách sau, lật nó sang, mà mãi, lâu lắm rồi, nó mới làm. Một ngón tay miết trên cái ly nước, cố gắng nói những điều rành mạch, gãy gọn, những điều sẽ làm người khác đau đớn. Hay một ngón tay lướt lên lướt xuống, xem lại những bức hình, và những câu chữ của ngày này nhiều năm về trước. Hay là ngón tay vừa bị cứa đau khi cố mở ra một cái túi xa xưa nào đó. Những ngón tay luôn làm nhưng đồng thời cũng không làm gì cả. Những ngón tay đã bị bỏ rơi từ lâu.
***
Tôi ôm đứa con gái của tôi trong tay. Nó đang ốm sốt, mấy hôm nay. Khi nó ốm thì nó bỗng trở thành một con thỏ bông lông mềm, và nó cần mẹ. Nó chỉ cần mẹ nằm cạnh, lâu lâu cặp sốt, chườm khăn, cho ăn cháo, và uống thuốc, và xịt họng, và đọc cho nó nghe 2 chương truyện.
Tôi bảo nó rằng, sắp tới mẹ sẽ bận hơn một chút. Mẹ lúc nào chẳng bận, con bé nói. Ừ đúng là như vậy, nhưng sắp tới, thì sẽ bận hơn một chút nữa. Nhưng mà chính vì vậy, mà những lúc chúng ta được nằm bên cạnh nhau như thế này, ôm nhau và nói chuyện, mới càng trở nên thật quý giá, con có thấy vậy không. Con bé gật gù. Và sau này khi con lớn lên, và mẹ già đi, và chúng ta đều có một tỉ thứ muốn làm với cuộc đời mình, thì những lúc như thế này sẽ lại càng hiếm đi nữa. Con bé con của tôi, bảo, buồn nhỉ.
Cũng không buồn lắm. Một chút thôi. Nhưng cuộc sống cần nhiều sự đa dạng hơn chỉ là vui hay buồn. Nó cần một tỉ thứ, và mỗi chúng ta cũng vậy. Đôi khi tôi nhìn hai đứa con xinh xắn và đáng yêu của mình, và tôi cũng không biết mình nên cảm thấy chính xác điều gì. Tự hào vì đã sinh ra và nuôi nấng chúng nó? Hay thấy buồn vì đã đưa chúng nó đến với cuộc đời ngày càng khắc nghiệt như thế này.
Nhưng không sao, vì đã trót đến rồi, đã trót bước chân vào một cái game khó, thì hãy cố gắng trở thành một người chơi game tài tình. Không thể nào biết được ở đằng sau bức tường kia thì có thằng nào sắp nhảy ra, nhưng nếu trong tay mình đã có đồ chơi, và mình cũng đã luyện tập đủ nhiều rồi, vậy thì cứ bước tiếp về phía trước.
Và những lúc khó bước quá, hãy nhớ ra rằng mình có một bà mẹ, mà mình có thể bốc máy gọi điện về, kể hết các thứ cho bà ấy nghe, rồi nghe bà ấy nói lại những câu vô nghĩa. Toàn bộ cái chuyện đó, thực ra cũng không vô nghĩa lắm đâu. Nó cũng là một điều đáng nhớ.
Trong một bộ phim Nhật Bản nổi tiếng nọ, có một tập phim mà tôi rất nhớ. Đó là lúc ông già chuyên hát nhạc dạo trên phố Goro San bước chân vào cái quán nhỏ, và yêu cầu một món ăn nghe có vẻ kỳ lạ, cơm trộn bơ.
Món này tên sao thì làm vậy. Xới ra một bát cơm trắng nóng, thêm vào một miếng bơ lạt, đợi chút cho bơ hơi chảy ra, rồi rưới thêm một xíu xì dầu. Là ăn.
Mãi sau này tôi mới biết nó gần như là một nét văn hóa đặc trưng của người Hokkaido. Nhưng ngày xưa, khi tôi còn ở Vĩnh Tuy và chưa biết gì về nước Nhật, thì tôi đã thích ăn cơm trộn bơ rồi.
Thực ra ban đầu không phải chính xác là món đấy. Mà anh trai tôi đã thêm bơ vào trong lúc nấu mì gói. Một tô mì Hảo Hảo quốc dân chua cay, đã được ông giời đánh ấy múc một muỗng bơ cho vào. Đấy là lần hiếm hoi mà ông anh đã nấu cái gì đó cho tôi ăn. Nhưng từ đó, tôi bỗng phát hiện ra một chuyện, đấy là tôi rất thích ăn bơ.
Ở đầu ngõ nhà tôi, hồi xưa, có một cô bán bánh mì mà tôi rất thích, bởi vì bánh mì của cô luôn ấm nóng. Điều giản dị ấy nhưng ngày nay ít hàng bánh mì còn làm được. Cô ủ tất cả bánh mì trong cái giỏ lớn đựng đầy bao vải gai, mỗi khi khách gọi thì lật lên, lấy ra một cái bánh, rồi đậy lại. Tôi luôn chỉ gọi một món, là bánh mì bơ, kèm thêm thật ít ruốc.
Tôi rất, thực sự, cực kỳ, mê đắm, cái món đó.
Yêu cầu là bánh mì phải còn nóng, bơ sẽ hơi chảy ra bên trong, kèm thêm một chút vị mặn từ ruốc. Hoàn hảo cho một bữa sáng, hoặc một bữa trưa, hay bất kỳ bữa nào trong ngày.
Sau này, khi đã lớn hơn và bắt đầu biết đến những lựa chọn xa xỉ hơn, tôi lại trở thành một con nghiện baguette, ăn với bơ, và một ít mứt trái cây (thật ra không có cũng được). Tôi chỉ cần bánh mì ngon, và bơ ngon.
Tôi ghiền bánh mì ở một cái tiệm nhỏ bên Thảo Điền. Cái tiệm đó chỉ mở vào cuối tuần, và lúc nào đến thì cũng phải xếp hàng. Đến lượt thì phải order thật nhanh, xong rồi tốt nhất là xách cái túi bánh mì đấy ra một quán cafe gần đó mà ngồi, chứ thường thì họ chẳng mấy khi còn chỗ.
Nhưng nếu ở nhà, một mình, và không có bánh mì, thì tôi sẽ cắm một nồi cơm bé, xuống siêu thị mua một khoanh bơ lạt, thêm hai quả dưa chuột để làm đĩa salad. Itadakimasu, tôi nói, rồi vui vẻ tận hưởng bát cơm trộn bơ của mình.
Bọn trẻ con cũng rất thích tôi làm món trứng cuộn. Không phải chỉ vì trứng được cuộn lại, xong cắt ra thành những khoanh xinh xẻo, mà còn vì món đó siêu mềm mại, vị hơi ngọt một tí, và rất rất thơm mùi bơ. Thỉnh thoảng, chúng nó lại nghiêng nghiêng cái đầu ra vẻ nũng nịu, hỏi khi nào mẹ lại làm trứng cuộn bơ cho con.
Có lẽ vì thích ăn bơ quá, mà tôi cũng có xu hướng bơ đi các vấn đề và các nhu cầu thực sự của bản thân mình. Những thứ chưa bao giờ được lôi ra, nói cho rõ ngọn ngành, để thống nhất, để giải quyết. Cứ mỗi lần động đến, là chúng lại trở thành những mũi dao sắc đâm thẳng vào khối bóng êm mềm hòa khí mà tôi cất công gìn giữ. Thế là tôi lại ứa ra như trận mưa tháng Tư hoảng loạn, trước khi thu vén hết tất cả lại và quay về với cái bát cơm bơ hay ổ bánh mì mềm của mình.
Nói thế nào nhỉ, chắc không phải tự nhiên mà tôi hay thích xem các chương trình thế giới động vật. Như cái chương trình mà tôi xem hôm qua, những con khỉ mũ và cả những chim cổ trắng cổ cam gì đó, tất cả những gì chúng nó quan tâm, chỉ có hai chuyện. Một là, hôm nay có bị con nào xực không. Hai là, nếu may mắn chưa bị con nào xực, thì hôm nay có xực được con nào bỏ vào mồm không. Cuộc đời của tất cả các loài động vật trên đời là thế.
Những con rùa bò lên bờ cát, đẻ trứng trên bãi cát. Bầy trứng nở ra thành những con non, và từ đó, những con non phải tìm cách bò ra đến biển. Trên cái đường đi ấy, chúng sẽ gặp muôn vàn kẻ địch. Những con kền kền đã nhịn đói mấy hôm rồi, những con rắn, thậm chí là cả, những con cua bự.
Bọn trẻ con ngồi xem và tỏ ra rất tức giận. Nếu con ở đó, con sẽ đuổi những con chim đi. Thật tội nghiệp. Tôi bảo, nhưng những con chim cũng biết đói mà. Chúng cũng cần ăn. Tự nhiên là như thế, nó cần phải diễn ra như thế. Thằng bé con không nói nữa, có lẽ nó đang nghĩ xem có cách nào để phản biện lại tôi không.
Đấy, tôi nói thì hay, nhưng thật ra sống rất luyên thuyên. Tôi là kiểu người không triệt để. Rõ ràng tôi cũng nghĩ như tự nhiên, đó là mày chỉ nên tập trung vào hai chuyện cơ bản trước nhất trong đời sống. Và chỉ thế thôi là được. Nhưng tôi cũng lại là một con dẩm thường xuyên quan tâm đến những vấn đề phức tạp và phiền nhiễu khác. Như là tính logic, sự công bình, khả năng nhìn nhận đến tận cùng của sự việc dù chúng không thơm ngon đến giọt cuối. Song song với đó, là tình cảm, là tình nghĩa, là sự gắn bó, là lòng thương, là sự chăm sóc, và rất rất nhiều điều khác.
Tôi không thể chỉ là một người xắn miếng bơ, phết lên miếng bánh mì hay bát cơm của mình. Mà tôi cứ lại là người nghĩ đến ông Goro San mỗi lần ăn cơm trộn bơ. Hay nghĩ đến người đã cùng tôi ăn lát bánh mì vào buổi sáng. Hay người đã làm bánh mì cho tôi, hoặc chở tôi đi mười mấy hai chục cây số đến một tiệm bánh mì ngon.
Cùng rất nhiều thứ khác, hòa trộn lại, không đơn giản như một món ăn mà tôi có thể bước tới, cầm lấy, đưa vào miệng, và nuốt xuống.
Cuối tuần rồi, tôi nhận được tin có một dòng sông vừa qua đời. Dòng sông bằng đúng tuổi tôi, lại sống một cuộc đời nhìn vào tôi thấy đẹp, nên lúc nhận được tin, tôi đã bàng hoàng nhiều hơn bình thường một chút. Tôi ngồi khóc đúng ba chục phút, cho đến khi những tia nắng len qua cái rèm cửa cuốn, mon men đến lẳn vào những ngón chân đang bấu lại ga giường.
Hồi còn ở Hà Nội, lúc chưa biết mình lớn lên sẽ trở thành một người như thế nào, vẫn tin rằng mình sẽ không lấy chồng sinh con, và vẫn ghim trong mình ước mơ được xách ba lô đi sống ở mỗi vùng đất dăm tháng một năm, xong lại quảy mình bước đi. Có thể đó là một dạng suy nghĩ rất phổ biến của thanh niên hồi đấy. Nó cộng hưởng với ước mơ mở cái quán cà phê nhỏ, pha những món nước mình thích và mở nhạc hay để nghe, mặc kệ có khách hay không.
Sau này, khi không còn ở trong căn phòng mở cửa sổ ra có cây ổi thơm nức mũi nữa, thì tôi cũng đã kịp sống một cuộc đời hoàn toàn khác với hình dung của mình trước đấy. Cái khác nhất, chẳng phải nằm ở việc mình đã sống theo hay không sống theo chuẩn mực của xã hội – mà nằm ở việc nó cứ thế thay đổi mỗi năm, và tôi hầu như không thể đoán được năm sau tôi sẽ sống như thế nào.
Khi bắt đầu lờ mờ đoán được, thì tôi đã kịp bế hai đứa trẻ trên tay mà tôi gọi chúng là con, và cứ thế lao vào một con đường cơ bản như bao người, nghĩa là tìm mọi cách để sống.
Rất khó để nói những năm tháng ấy là buồn hay vui, ý tôi là tất cả những năm tháng mà tôi đã bước qua: từ ngôi nhà cấp bốn với khoảnh vườn, đến những đoạn đường rong ruổi leo núi với đồi, đến những ngày luẩn quẩn tã sữa, bông hoa quỳnh nở một ngày bất chợt của tháng Tư, một tuần trà phổ nhĩ chín trần bì lúc nửa đêm, những bài nhạc của Norah Jones, Zhao Peng, phim của ông Vương và nhiều ông khác, và tổ hợp những thứ vớ vẩn tôi đã viết xuống, trong đêm lụt lội, trong tia nắng lọt qua khe cửa, trong bộ lông của con mèo đen già.
Hôm qua, trong lúc chỉ con bé con viết văn, tôi đã dạy nó một từ mới: muôn vàn.
Muôn vàn, có nghĩa là, nhiều không đếm xuể. Nhưng thật ra, ngày xưa thì vẫn đếm xuể. Vì “muôn” là từ gốc Hán, có nghĩa là một vạn, tức là mười nghìn.
Từ điển tiếng Việt nói “muôn” là từ cũ của “vạn” (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, 1992). Mối quan hệ giữa hai vần “uôn” và “an” là mối quan hệ lịch sử mà ta có thể bắt gặp trong nhiều trường hợp, chẳng hạn như là muộn > vãn (chiều tối).
Thế có nghĩa là, “muôn” chính là “vạn”, sau đấy người ta ghép nó lại, trở thành “muôn vạn” hay “muôn vàn” – mang ý nghĩa biểu đạt cái gì đó vô cùng nhiều, tới mức không thể đếm được.
Tôi bảo con bé, thay vì viết là “rất nhiều” – hơi thường, con thử dùng từ “muôn vàn”, xem sao.
Con bé lại hỏi, trong lúc đang viết một bài văn tả cảnh về Đà Lạt. Nó hỏi nơi đó có gì đẹp mẹ nhỉ. Tôi bảo, con thử nhớ lại xem. Nhưng mẹ nghĩ, Đà Lạt đẹp nhất, có lẽ là mây bay qua, và hai hàng thông xanh, ở con dốc nơi chúng ta đã đi bộ xuống quán cà phê bên dưới. Con bé reo lên, ah con nhớ rồi, ở đó có sữa chua đựng trong ly thủy tinh, và những con mèo con. Tôi bảo, ừ, đi viết đi.
Khi tôi nhìn ra ngoài phố, phố đã muôn vàn lá rơi. Khi tôi nhìn vào lòng tôi, tôi đã như thể tôi chính là tôi.
Luôn luôn tôi có cảm giác rằng mình bị chệch nhịp thời gian so với những điều đúng và những người đúng. Trên phim hay có cái trò vào cái giây phút quan trọng thập tử nhất sinh, ví dụ như gì nhỉ? Ví dụ như, một người đang đứng vắt vẻo trên sân thượng, chuẩn bị nhảy xuống. Kiểu gì cũng có một ông rỗi hơi leo thang bộ lên, sau đó quát vào mặt những lời đanh thép, những câu rúng động tâm can. Người kia sau khi nghe xong bèn ôm mặt khóc rưng rưng, khuỵu gối xuống. Ông mặc áo đen vác lưỡi hái đứng bên cạnh tiếc rẻ, tí nữa thì đủ KPI cho hôm nay rồi.
Nhưng ngoài đời thì sao, hay ít nhất là đời tôi. Nếu tôi mà là cái người chạy nháo nhào từ cầu thang bộ lên sân thượng, thì thật xui cho cái kẻ chán đời kia.
Thứ nhất là tôi không biết phải nói gì. Thứ nhì là nếu biết phải nói gì hẳn tôi cũng sẽ tự phản biện xem có nên nói không. Thứ nữa là nếu đã quyết sẽ nói rồi đi, thì khi tôi mở miệng ra được, tiếng còi hẳn là đã hú lên từng hồi dưới kia rồi.
Đấy, tôi luôn luôn chậm hơn người khác vài nhịp. Không hẳn vì tôi bẩm sinh chậm chạp, mà là vì tôi luôn luôn tự hỏi rằng cái điều này có thực sự cần thiết không.
Đặc biệt là ở những hoàn cảnh mà người ta thường phải mau mắn tỏ ra rằng mình hữu ích. Người ta xông xáo phát biểu, nói những điều (mà tôi biết là) vô nghĩa, nhưng nó luôn phát huy tác dụng. Còn tôi thì, lại luôn luôn cảm thấy nói cái thứ này ra để làm gì nhỉ, sao không cắm mặt vào mà làm trước, xem có ổn ko, ổn rồi thì nói, không ổn thì lại cắm mặt vào làm tiếp. Cách làm việc và thể hiện này, rõ ràng đã được chứng minh theo thời gian là không hiệu quả.
Tôi cũng thường nhắn tin riêng, khi muốn góp ý cho một ai đó, và nhắn chung trên group, khi muốn khoe một tin vui, một lời mừng. Nhưng rõ ràng là, phần lớn người ta không thích làm như vậy. Tôi đã tỏ ra rằng mình hoàn toàn không phù hợp với thế giới loài người.
Thế mà một quả tên lửa đã bắn lên trời.
Nếu tôi là một người quyết đoán và đầy hào quang, tôi sẽ ra tổ chức một cuộc họp, đề xuất ý kiến với một cái proposal lấp lánh, rồi tôi gửi thông cáo báo chí, tôi sẽ book 30 KOL và 10 đơn vị báo chí, truyền hình đến tham dự sự kiện quả tên lửa được bắn lên trời. Tôi sẽ gửi quà tặng và thiệp mời đến vài trăm người để tất cả họ đăng story. Tôi sẽ đập bộn tiền vào livestream và cho chạy ads sau sự kiện. Tôi sẽ set cả white post và dark post. Tôi sẽ tăng độ phủ bằng vài chục micro KOL khác. Và tôi sẽ viết một cái post 1200 chữ rúng động tâm can để public và tag tất cả mọi người vào. Trên cái post đó, tôi diện outfit thật đẹp từ một NTK nổi tiếng, đứng gần cái tên lửa, giơ cao một tay ra dấu chiến thắng. Rồi bùm, quả tên lửa phóng lên trời. Một khoảnh khắc lịch sử.
Thực tế thì sao, không một ai, kể cả người cần phải biết, hay biết gì về chuyện có tồn tại một quả tên lửa. Tôi đã bắn nó lên trời vào một đêm không sao. Trong cơn âm thầm tĩnh lặng trước một trận bão lớn. Tôi hút một điếu thuốc trong trí tưởng mình vì trên thực tế tôi không hút thuốc. Tôi cũng khui cả một lon bia trong tâm trí. À thôi, một chai whiskey đi, đằng nào chẳng tưởng tượng. Tôi đứng đây và uống cạn sạch.
Hôm nay ngồi nghe Perfect Days của Lou Reed mà thấy nhớ Hà Nội phết.
Just a perfect day của tôi, có lẽ là một một ngày hồi năm tuổi, ngồi sau con xe cub của mẹ, đi sang nhà bà ngoại ở phố Huế, rồi từ đấy đi lên hồ Gươm. Tôi nhất thích hồ Gươm, hay nói cách khác, nó là thứ duy nhất tôi biết về Hà Nội. Mọi thứ thuộc về đời sống của tôi đều chỉ lưu giữ ở Bờ Hồ, và mở rộng ra khoảng 2 cây số quanh đấy, ngoài ra tôi chẳng nhớ gì khác. Cũng như tôi chỉ biết mỗi kem Tràng Tiền, kem Thủy Tạ. Tôi thích ăn kem ốc quế, kem chanh bạc hà, nhưng nó luôn chảy quá nhanh, tôi luôn là đứa ăn kem chậm nhất trong nhà.
Nhà bà ngoại tôi có hai mặt tiền, thông giữa phố Huế và phố Nguyễn Công Trứ. Từ bé tôi đã loanh quanh chơi ở chợ Giời, ăn xôi xéo ở đấy, và xôi đỗ đen, và bánh mì phố Huế, và mì vằn thắn, và chè bà cốt. Sau này khi tôi lớn lên, có những anh giai đã đứng đợi tôi ở đầu ngõ phố Huế, và cả những anh giai đi bộ với tôi lên Bờ Hồ. Các anh bây giờ có lẽ đều đã lấy vợ cả. Còn phố Huế thì đã xơ xác đi nhiều, các hàng quán không làm ăn được như trước, còn những nhà dân ở đó hẳn cũng đã dọn đi nhiều.
Thỉnh thoảng, mỗi khi về Hà Nội, tôi vẫn nán lại ở cái quán chè đầu ngõ, gọi một cốc chè nóng, ngồi uống nhưng không phải để uống, mà để lén chui về ngày xưa. Cốc chè bây giờ vẫn đậm đắng như thế, nhưng đã dễ uống hơn hồi xưa nhiều.
Just a perfect day của tôi còn là gì nhỉ, cái Cung thiếu nhi bây giờ đã cũ rích, chẳng biết bên trong người ta có tu sửa gì không. Tôi đã học đủ thứ ở đây, từ múa ballet đến aerobics đến vẽ vời đến taekwondo.
Có lần tôi tan lớp vẽ vào 3 giờ chiều, xong đợi mãi không thấy ai đến đón. Tôi cứ đứng trước cái cổng, chỗ người ta bán bóng bay cả đồ ăn vặt, đợi một người lớn mà tôi cũng không rõ là đang đợi ai. Thì ra mẹ tôi thì tưởng cậu tôi đón, cậu tôi thì tưởng bố tôi, bố tôi thì tưởng dì hoặc đại loại vòng tròn thế nào đấy. Ai cũng nghĩ là tôi đang được ngồi rung đùi ở phố Huế xem TV rồi. Thế là đến 7 giờ tối, khi tất cả người lớn kiểm tra thông tin với nhau, thì mới nhận ra là không ai biết tôi đang ở đâu. À, tôi vẫn ở đấy, trước cái cổng Cung, kiên nhẫn đợi một người nhớ ra tôi. Bố tôi lao con xe giấc mơ với tốc độ tên lửa, ra đến nơi, đón tôi về nhà. Tôi không khóc cũng không nói gì, chỉ hơi đói một chút. Hóa ra tôi đã luôn kiên nhẫn với con người từ bé như thế.
Just a perfect day của tôi, chủ yếu, có lẽ là tất cả những ngày tôi được ở trong căn phòng của riêng mình, trên phố Lò Đúc. Nếu không đi học, thì tôi cứ ở nhà cả ngày mà không biết chán. Tôi đọc truyện tranh, truyện chữ, nghe radio, viết nhật ký, sáng tác truyện ngắn, viết thơ, viết thư tình (nhưng không gửi), hát hò nhảy nhót nấu ăn tắm chó ôm mèo. Một ngày có dài đến mấy, miễn là tôi được ở một mình, vẫn là một ngày ngon lành.
Tôi cũng có bạn thân. Trung bình mỗi năm đi học tôi lại chơi thân với một đứa bạn. Đến bây giờ nghĩ lại, thật khó để hiểu vì sao những đứa bạn đó lại chơi với tôi, ngày xưa tính cách tôi khó chịu lắm. Nhưng thế đấy, luôn có ai đó trên đời chịu được bạn.
Nhưng thân nhất có lẽ là những cô hàng quán. Cô bán bánh mì que ở dốc Thọ Lão, chú cho thuê truyện tranh, anh hàng net… những con người đã chứng kiến tuổi thanh thiếu niên lãng xẹt của tôi. Những người bạn mà tôi đã gặp trên mạng. Những dòng linh tinh tôi đã chat qua Yahoo! hay viết trên blog 360. Những cuộc tranh cãi vớ vẩn trên cái forum tin học. Những người bạn chơi cờ vây đầu tiên với tôi.
Tuổi trẻ của tôi nói chung thật vớ vẩn, nhưng cái lúc đó, nó vẫn hay theo một cách nào đấy, chủ yếu vì nó được diễn ra ở Hà Nội. Cái thành phố rất biết cách mụ mị lòng người bằng những vẻ đẹp của nó. Chỉ cần một mùa hoa sưa trổ ra hay một gánh hàng cốm đi ngang thôi, là người ta sẽ tha thứ hết cho mọi điều họ hứng chịu hàng ngày. Và tôi cũng thế.
Nhưng tôi đã xa Hà Nội quá lâu rồi. Và nếu còn ở lại, thì Hà Nội bây giờ cũng không còn thuộc về tôi nữa. Nó đã thuộc về, những đứa trẻ bây giờ. Nếu tôi còn ở lại thì tôi cũng không thể mở cái miệng ra nhận mình là người Hà Nội được. Hà Nội là một thành phố luôn khác đi, và cái người chứng kiến sự khác đi ấy thì luôn luôn cảm thấy mất mát trong lòng. Tôi lại không muốn trở thành một bà già suốt ngày mở miệng ra là ngày xưa thế nọ, bây giờ thế kia, nên tôi chỉ còn cách ngậm miệng vào, và chứng kiến một Hà Nội khác đi mỗi ngày. Một Hà Nội đã mất một cách tự nhiên.
just a perfect day drink sangria in a park and then later when it gets dark we go home
just a perfect day problems are left to know Weekenders all night long it’s such fun
À quên mất, just a perfect day còn là những kỷ niệm vụn vặt mà tôi đã để rụng mất ở Hà Nội nhiều năm về trước. Những buổi đi bộ mà tôi đáng lẽ, những ly nước, gói xôi, những bản nhạc, hồ Tây, mùa thu, mùa hè, những cơn mưa phùn bất chợt, những nụ hôn. Tất cả đan xen giữa cái thực sự đã diễn ra, và cái mà tôi ước đã diễn ra, hòa trộn thành một thứ Hà Nội vừa rõ nét vừa mơ màng. Và luôn luôn gắn liền với một thanh âm da diết.
just a perfect day you make me forget myself I thought I was someone else someone good
Hôm trước lúc tôi đưa bọn trẻ con đi công viên, đã thấy những cơn mưa chò bay ạt ào trên phố. Trái với hình ảnh nên thơ qua những tấm hình, tôi thấy quả chò đáp xuống đầu cũng khá đau. Thằng bé con nhà tôi bị u một cục, còn tôi thì sau vài lần tung chò thì cảm thấy ok, trải nghiệm như vậy là đủ rồi.
Không hiểu sao nhìn mớ chò bay khiến tôi nhớ đến một bài thơ của người H’Mong: “anh ném pao, em không bắt em không yêu, quả pao rơi rồi em yêu người nào, em bắt pao nào…”
Tôi khá thích đọc thơ của người dân tộc (nhiều tộc), nó cứ có một cái nhịp điệu riêng rất hay, bình thản đến ngạc nhiên, lại hơi tê tê phả ra mùi rượu cần men lá.
Chẳng hạn như dân ca dân tộc Giáy: “yêu anh đến tháng Bảy cơm chẳng ăn tháng Bảy yêu anh đến tháng Tám cơm chẳng ăn tháng Tám”
“ngày qua mười dặm ngựa ngày qua năm đoàn người không thấy người nào giống dáng em chưa gặp người nào đúng là nàng”
Tình yêu cũng giống như cơn mưa chò bay giữa thành phố tháng Tư, không bao giờ biết lúc nào nó sẽ rơi trúng đầu mình. Nhìn từ xa, nó thật là đẹp, thậm chí đến mức gần như ước ao. Đi đâu không thấy, cũng hoài nhớ về. Năm nào cũng lặng lẽ xem và nhớ lại như mục Memories nhiều chuyện trên Facebook. Nhưng để nó rơi trúng mặt thì rất đau.
Tôi là người rất hay để mình đau.
Có thể là vì thần kinh vận động của tôi hơi kém, chăng? Tôi ít khi tránh được những cú chò rơi, lại còn hay ngẩn người ra ngắm nhìn những vẻ đẹp. Hâm dở thế đấy.
Sau mấy chục năm trầy trật với tình yêu, tôi cảm thấy đằng nào cũng vậy. Nghĩa là đằng nào cũng không tránh được, và trái tim mình sẽ rất vất vả. Nhưng, mình càng có nhiều thứ để làm với chính mình bao nhiêu, thì đứng giữa một cơn chò bay càng dễ chịu hơn bấy nhiêu. Hơn thôi nhé, hoàn toàn dễ chịu thì không có đâu. U đầu sẽ nhiều hơn.
Tôi bảo những đứa con tôi, cứ thích nhau thoải mái. Cuộc đời mà không để ý ai thì chán ốm. Nhưng phải học hành cho đàng hoàng vào. Điểm số mà lẹt đẹt thì cứ xách đít về đây. Và phải dành thời gian cho chuyện vận động: chạy nhảy, chơi bóng rổ, leo núi trong nhà, tập võ. Cũng như thời gian cho những thứ thuộc về tâm hồn: đọc sách, chơi nhạc, luyện cờ, pha trà, nói chuyện. Phải làm tất cả những thứ đó càng sớm càng tốt, và làm cho thật thuần thục. Mỗi năm mỗi lớn thì phải thêm một bước nữa là biết cách trò chuyện với chính mình.
Tất cả đống kỹ năng đó sẽ giúp mình bước vào cơn chò bay với một tâm thế thơ thới hơn, để đối diện với cái đẹp và những niềm đau.
Đau quá mẹ ơi, thằng bé con chạy ra, chỉ cho tôi cái chỗ đo đỏ trên đầu nó. Tôi bảo, về nhà mẹ sẽ bôi thuốc cho con. Thằng bé nghe thấy thế liền cảm thấy yên tâm ngay. Thực ra tôi chả có thuốc gì. Có mỗi một tuýp thuốc đu đủ màu đỏ, dùng để bôi tất cả mọi thứ trong mọi trường hợp. Muỗi đốt va đập ngã đau dị ứng sưng tấy…bất kể chúng nó bị gì, tôi sẽ lôi ra, bóp một tí ra đầu ngón tay, trét vào. Chúng nó sẽ ngay lập tức cảm thấy được an ủi. Thứ nhất là cái đó, thứ nhì là urgo. Trong nhiều trường hợp, toàn là giả dược, thế mà lại vô cùng hiệu quả.
Nhưng nói chung là mùa chò bay vẫn đẹp. Và tình yêu vẫn đẹp. So giữa những thứ hãm lờ phải chịu với nó, thì tôi vẫn chọn lao vào. Vì sao vậy? Bởi vì cũng chỉ có một cuộc đời để sống thôi. Sống và cảm thấy – thì vẫn hơn sống mà chẳng cảm thấy gì hết chứ.
Nên vào những ngày tháng Tư, tháng Năm, vẫn phải bước ra ngoài đi. Thành phố vẫn còn những ngày nắng đẹp, dù đã bắt đầu có mưa đầu mùa. Còn mấy bữa được thấy những trái pao nâu bay trên bầu trời Sài Gòn…