chuyện của đại dương

Có thể bạn đã biết, hoặc chưa, mình có làm một kênh podcast tên là Chuyện kể em nghe – nơi mình kể các câu chuyện nho nhỏ cho ’em’ nghe trước giờ đi ngủ.

Mùa một sẽ là các câu chuyện của đại dương. Chúng mình đã kể về:

  1. Chuyện con cá màu hồng muốn trở thành màu xanh
  2. Chuyện con cá nóc không thể phình to
  3. Chuyện con sứa tầm ma không muốn bay lên trời
  4. Chuyện chú rùa biển đi lạc
  5. Chuyện con cá voi hát lạc tông

Nếu nhà bạn có các em nhỏ, hoặc chỉ đơn giản là bạn muốn trở về những ngày còn nho nhỏ, mình mời bạn nghe những chuyện này trước giờ đi ngủ nhé.

Nếu bạn có ý tưởng gì thú vị, xin gửi thư cho chúng mình tại: chuyenkeemnghe@gmail.com

Nếu bạn thấy thích những câu chuyện này, hãy ủng hộ chúng mình bằng lượt nghe podcast, hoặc mời chúng mình một tách trà thơm nhé: https://nhuoclac.com/moi-lac-uong-tra/

Nhược Lạc

cách một từ mới ra đời

Đôi khi, tôi nghĩ về cách một từ mới được tạo ra.

Người ta đã tạo ra nó bằng cách nào? Hay nói đúng hơn, lịch sử đã tạo ra nó bằng cách nào?

Ví thử mấy từ chỉ vật hiện hữu, như cái bát, cái đũa, cái mâm…thì chắc dễ hơn, ta cần một từ quy ước để chỉ cái cầm nắm được. Tôi hình dung một ngày đẹp trời, con người A mang cái gáo dừa ra nói với con người B: Từ hôm nay ăn cơm vào đây – gọi nó là cái bát/ cái chén.

Tuyệt. Nhưng còn các từ chỉ sự vô hình. Người ta đã tạo ra nó bằng cách nào?

Duyên phận. Hồi ức. Tình yêu. Hy sinh. Quán tưởng. Chiêm nghiệm.

Tôi hình dung một ngày, con người A nói với con người B: Khi tao nghĩ đến mày, tao thấy ầm ầm trong này (vỗ vào ngực trái). Từ hôm nay, gọi đó là nhớ thương.

Bây giờ, khi tôi đã trở thành một con người S nào đó trên mặt đất, thì từ ngữ đã khá phong phú, đủ xài trong mọi hoàn cảnh rồi. Nhưng đôi khi vẫn không.

Phải làm thế nào để diễn tả cảm giác của một đàn chuột bò nhung nhúc trong người, hay một đàn chim sáo mười ba con bay ra từ lồng ngực. Làm thế nào để nói một từ ôm hết cả hoàng hôn. Làm thế nào diễn tả cái xúc động vô vị khi anh đứng trên một ngọn núi – thứ tốn của anh vài ngày trời.

Cách một từ mới tạo ra, có phải chỉ đơn giản là tôi thốt ra đằng môi. Tôi ghép các chữ cái lại – để cố gắng viết nó xuống giấy. Rồi tôi kể cho một con người nữa: Từ hôm nay, sẽ gọi đây là Huâng.

Người đó sẽ hỏi tôi: Huâng là gì?

Tôi sẽ bảo: Huâng là sự trống trơn trong lòng tao, sau hai ngày leo núi. Nó không phải cảm giác sung sướng, hay tự hào, buồn hay thất vọng, không tự vấn đúng hay sai. Nó làm cảm giác sau khi mày quần quật leo lên bằng tất cả tay, chân, bờ mông, đầu gối, thì mày không nghĩ gì nữa cả.

Và, khi đó, một từ mới ra đời.

Nhược Lạc

bát canh mùa thu

Hà Nội đã bước sang thu thật rồi. Sáng thức dậy thấy trời mưa, lạnh, bụng dạ chỉ thèm bát canh thật ấm.

Lật đật trở dậy, ngâm nấm và rong biển. Lục trong tủ xem còn củ quả gì. Nếu còn đủ cà rốt, củ cải hay khoai tây thì thật tốt. Có hôm còn có ngưu bàng.

Bắc nồi lên bếp, để lửa thật nhỏ mà sên hành tây. Khi từng miếng hành tây chuyển màu nâu, hết mùi hăng, tỏa lên mùi thơm ngọt, thì thêm củ quả tùy thích, thêm nấm đông cô, rong biển, củ sen, táo đỏ, gừng… thêm nước lọc vừa đủ, rồi cứ thế để lửa liu riu.

Nếu là bữa sáng, chúng mình sẽ lấy nước dùng đó ăn kèm mì, sủi cảo, rau cải xanh. Nếu là bữa trưa, chúng mình sẽ có tô canh ấm, ăn kèm cơm nóng hổi.

Mỗi ngụm nước canh húp vào, khiến lòng mình run lên vì ấm áp. Đôi khi chúng mình nổi da gà, và cười bảo nhau là “gió đang ra”. Càng ăn canh, càng thấy người ấm áp dễ chịu. Có khi người đổ mồ hôi nhễ nhại, nhưng sau đó là nhẹ nhõm, khoan khoái vô cùng.

Có vài thứ nguyên liệu đặc biệt hợp với mùa thu. Trước tiên phải kể đến củ sen, và gừng – thứ giúp bổ phế, ấm phổi. Kế đến là củ cải, và táo đỏ. Nhưng điều khiến một bát canh nói chung trở nên đặc biệt trong mùa thu, có lẽ chỉ đơn giản là sự ấm áp. Thứ nhiệt nhỏ lửa, liu riu nhiều giờ, khi ăn có thể cảm nhận được.

Giống như những điều nho nhỏ chúng ta làm hàng ngày, qua nhiều năm đều hiện hết lên khuôn mặt.

Những quan tâm nhỏ nhặt mà ta dành cho nhau, như đắp một tấm chăn ngang bụng, rót cốc nước để sẵn trên bàn, đun trà củ sen, hoặc ninh sẵn một nồi canh ấm nóng cho bữa ăn mùa thu. Đó không phải là thứ cần treo băng rôn, ghim trong lịch, hay phải la toáng lên thì người ở cùng mới biết.

Đó là thứ, chỉ đơn giản là ta biết, như ngụm nước canh uống vào thấy ấm lòng – nói ra thành lời làm sao mà hết được.

Nhược Lạc

niềm vui của người trưởng thành

Mọi người hay nói “Đừng lớn lên, đó là một cái bẫy” hoặc “Chỉ muốn được mãi là trẻ con”, cùng nhiều câu khác có ý nghĩa tương tự vậy.

Không hiểu sao mà tôi chưa từng.

Khi nhớ về tuổi thơ của mình, tôi nhận ra là cũng có những cái vui, và những cái không vui. Song, phần lớn, là tôi quá lạ lẫm với thế giới và không biết mình phải làm gì, nên làm gì.

Dường như tôi làm cái gì cũng sai, cũng không được lòng người lớn. Đi học cũng không được bạn bè quý mến. Đã thành thông lệ, cứ mỗi lớp học qua, tôi chỉ chơi được với đúng một người bạn.

Tôi đã cảm thấy cuộc đời tệ lậu hết sức, cho đến ngày tôi học xong và ra trường. Tự dưng, không hiểu sao, từ đó về sau, mọi chuyện cứ dễ chịu dần với tôi. Có thể là tôi đã khôn lên, có kinh nghiệm trong ứng xử với người khác hơn. Có thể là tôi đã trưởng thành hơn, và hiểu chính mình hơn.

Tôi bắt đầu biết mình muốn làm gì, cần làm gì, nên chơi với ai cho phù hợp. Vì những lẽ đó, dù khi làm người lớn, phải chịu nhiều trách nhiệm với cuộc đời mình hơn, nhưng tôi luôn thấy vui hơn khi được làm người lớn.

Tôi có cái may mắn của việc được làm một người-lớn-tự-do. Có những người lớn khác, họ có thể ở trong những tình huống khó khăn hơn, cuộc sống bươn chải của họ rất vất vả, gặp nhiều vướng mắc trong các mối quan hệ với gia đình, đồng nghiệp… Tôi là một người lớn may mắn hơn. Tôi có công việc tốt, có gia đình ổn định, yêu thương, ủng hộ, có sở thích, có mong muốn riêng – và được toàn quyền quyết định làm điều đó.

Nói cách khác, tôi hoàn toàn, cực kỳ, vô cùng tận hưởng tuổi trưởng thành của mình.

Một trong những niềm vui to lớn của tuổi trưởng thành, theo tôi, là bạn được tiếp cận với khoảng bao la rộng lớn của việc học.

Hồi còn đi học, tôi luôn không thích học.

Trường, lớp, thầy cô, bạn bè, sách giáo khoa, bài kiểm tra….luôn là cơn ác mộng đối với tôi. Đã có lúc tôi nghĩ rằng do mình quá kém cỏi, nên mới không học được, và không thấy vui với việc học.

Nhưng khi ra trường rồi, tôi mới nhận ra thế giới rộng lớn đến nhường nào. Nó rộng tới mức, bạn có thể tự do chọn ra cái bạn muốn học – cách bạn muốn học – người chỉ dẫn cho bạn học.

Và khi đó, niềm ham học ẩn giấu trong lòng tôi bỗng trào ra không ngừng. Tôi học về mọi thứ tôi quan tâm, chỉ với mạng internet. Không cần quá nhiều tiền bạc, luôn có những cách học miễn phí hoặc với giá cực kỳ hợp lý, những người đủ giỏi – đủ tốt bụng – đủ nhiệt huyết để chỉ dạy cho tôi trong các lĩnh vực khác nhau.

Theo cách đó, tôi nhận ra việc Học là một Quyền lợi, một niềm Vui, một vẻ Đẹp của thế giới – thứ mà trước đó tôi chưa từng biết đến.

Nhiều tuần qua, tôi đồng hành cùng các diễn giả trong chuỗi workshop Mở Vì Sài Gòn.

Mỗi tuần, tôi lại ngồi xuống cùng các diễn giả, dượt lại bài giảng, sắp xếp lại cho hợp lý, trao đổi về cách tương tác với người tham dự….

Quá trình đó, nói không mệt là nói dối, nhưng quả thật rất thú vị và đầy háo hứng. 

Nó khiến tôi được sống tiếp trong cái không gian của sự học, sự tiếp thu cái mới. Mỗi cuối tuần, lại có 2 diễn giả xuất hiện, với chuyên môn của riêng họ, đến nói cho những người mới tinh – như tôi – về vẻ đẹp của một lĩnh vực mới.


Giờ đây, dù bạn đang ở lứa tuổi nào, nơi chốn nào, nếu như bạn vẫn đang tìm thấy niềm vui của việc Học một điều mới – thì xin chúc mừng bạn.

Đó là một niềm vui vô bờ bến, không dễ kiếm tìm, mà chỉ người trong cuộc mới hiểu được thôi.

Nhược Lạc

làm hòa với chính mình

Quan điểm của tôi về việc viết lách thế này: Viết là công việc thuần kỹ thuật, đòi hỏi kỷ luật, nhịp điệu đều đặn, không thể trông chờ vào cảm xúc mà làm việc. 

Ngay cả với khung trời lãng mạn nhất là thi ca, thì tôi cũng viết với nhịp điệu đều đặn của ngày, thay vì đợi cảm hứng đến.

Song, không phải lúc nào mọi chuyện cũng yên ổn như vậy. 

Cũng có những ngày tôi không viết được. Dù, với kinh nghiệm cá nhân, tôi vẫn luôn tìm được cách hoàn thành các deadline. Nhưng vẫn có những cái không hoàn thành được. 

Cảm giác lúc đấy thật tệ, nó giống như mình chưa đủ chuyên nghiệp cho lĩnh vực mà mình đã chọn gắn bó. Giống như, mình đã tự phản bội cái kỷ luật mà mình đặt ra. Giống như, mình đứng lại ngẩn ngơ, trong khi mọi thứ đang chạy vụt qua mình.

Khi đó, tôi đành gật gù thừa nhận với chính mình: Ai dà, công nhận khó thật đó, mệt thật đó.

Rồi tôi uống thêm một ngụm nước, và đi nằm nghỉ.

Những cơn tuột cảm hứng như thế này, có thể đến từ nhiều nguyên do. Có khi là một cơn ốm bất thình lình. Có khi là ngày trăng lớn. Có khi ai đó dội cho tôi một gáo nước lạnh toát kèm nhiều đá viên. Có khi là một cú xẹt điện từ cuộc sống, chẳng hạn như: con ốm.

Song phần nhiều là do tôi tự chán chính mình. 

Đến cửa ngõ đấy thì thua, bạn đã chán chính bạn thì còn động viên kiểu gì nữa. Ôi không phải chửi tôi bạn ơi, tự tôi đã chửi tôi bung bét rồi. Cái tâm lý kiểu này không chỉ xuất hiện ở mỗi mình tôi, mà còn bắt gặp ở phần lớn bạn bè sáng tác quanh tôi nữa. Họ không cần ai dội thêm cái gì đâu, vì cái họ tự dội chính họ vốn kinh khủng hơn gấp nhiều lần.

Kinh nghiệm của tôi lúc đấy chắc chỉ là nghỉ ngơi thôi. Các công việc đã tới hạn cần hoàn thành thì vẫn luôn có cách để hoàn thành, chỉ là không đạt tới phong độ tốt nhất. Còn lại, những công việc khác, nếu có thể đợi được, xin hãy dành thời gian để đợi. 

Cứ coi như mình đang bị một cơn ốm quật vào một ngày đẹp trời đi. 

Sau cái đoạn thất vọng về bản thân thì tôi sẽ dần không nghĩ nữa. Chỉ đổi một dấu thanh thôi, từ nghĩ thành nghỉ để tôi yên lòng.

Rồi tôi yên lòng nằm hòa với chính mình. Không đòi hỏi nó phải sáng tạo, độc đáo, giàu năng lượng, an vui hay nhẹ nhõm gì nữa. Hãy cứ là tôi của lúc đó thôi – với tất cả sự mệt mỏi, rệu rã của mình.

Rồi cái-gì-đó sẽ luôn đến. 

Trong hơn ba mươi năm sống trên đời, tôi nhận ra là luôn có một cái-gì-đó sẽ đến. Nó sẽ đến trong dáng hình của một cơn gió đổi chiều. Một cú điện thoại. Một người bạn bỗng nhiên nhắn hỏi thăm. Một bức thư bay đến từ một người hoàn toàn xa lạ. Một bữa ăn gia đình bình thường. Một cốc bạch trà-táo đỏ-hoa cúc ấm nóng đặt sẵn trên bàn. 

Luôn có cái-gì-đó đến, khiến tôi nhận ra mình không sống được một mình. Tôi là một con người mang đầy đủ mã gen cần đồng loại, dù đôi khi tôi vẫn nghĩ rằng chỉ một mình thôi là đủ. Nhưng mà không. 

Ta vẫn cần ai đó khác, lắng nghe những điều ta đã tự nói với mình hàng trăm lần. Ta vẫn cần ai đó, động viên một lời ta có thể tự nghĩ ra. Ta vẫn cần ai đó, nấu cho mình một bữa cơm, dù ta cũng có thể tự nấu. Ta có thể tự làm tất cả đó, nhưng cảm giác chăm chút đến từ người khác – vẫn khác biệt hoàn toàn. 

Chồng tôi từng nói là sao mình tự gãi cho mình không sướng bằng được người khác gãi cho nhỉ? 

Tôi cũng đâu biết đâu, nhưng có lẽ trong đầu ngón tay của người khác, chạy qua chạy lại trên tấm lưng mình, nó có thêm thứ ngôn ngữ không lời được thoát ra.

Gọi đó là sự quan tâm, niềm ấm áp hay tình yêu thương cũng được. Nhưng ta cần thứ đó.

Nên ta cần nhau, nhiều hơn mức ta có thể nghĩ. 

Đôi khi, ta là người trao đi mà ta không biết. Đôi khi, ta là người đang nhận mà ta không hay. 

Song, giống như không khí, luôn có điều ấy tồn tại, tưởng như hiển nhiên, mà chỉ khi bị thiếu hụt, hoặc mất khả năng hấp thụ – ta mới có thể giật mình nhận ra.

Nên, tôi đã không còn trách mình yếu đuối, vào cái ngày tôi cần  sự quan tâm. Cũng không còn cảm thấy xấu hổ, chỉ vì vui với một tin nhắn ân cần. Và khi cảm xúc tuột về tới đáy, tôi yên tâm chờ đợi. Chờ một cái-gì-đó sẽ đến, chờ tôi sẽ khỏe lại, trở dậy, và bước đi. 

Nhược Lạc

ứng xử với lời chê

Thật không dễ dàng gì khi phải nghe một lời chê – dù là chê đúng hay chê sai. Nhưng sau khi đã trải qua quá nhiều lần sụt hố sâu thăm thẳm của những lời chê, mình đã tự rút ra một vài kinh nghiệm nho nhỏ để tự bảo vệ mình. Như sau:

[1] Cứ nghe đã

Người đang chê, người phê phán, người phàn nàn – điều họ mong đợi nhất thực ra chỉ là: được lắng nghe.

Hãy cứ nghe đã. Lúc này, mình cố gắng không phân tích hoặc suy luận bất cứ điều gì. Tuyệt đối không kết luận rằng người kia thù ghét mình, và cũng không vơ lỗi sai về mình. 

Mình sẽ chỉ thuần túy đáp lại: dạ, vâng, ừ… để tiếp nhận và tiếp tục cuộc nói đó thôi.

[2] Phân tích vấn đề một mình và hành động tiếp theo

Không thể phân tích vấn đề sáng suốt trong một cuộc tranh luận – đó là kinh nghiệm của mình.

Cá nhân mình, chỉ có thể suy nghĩ thấu đáo khi xử lý thông tin một mình. Do đó, sau khi đã tiếp nhận ý kiến từ người khác, mình sẽ phân tích thông tin đó. 

Nếu mình cảm thấy đó là một lời chê vô lý, mình sẽ bỏ qua một bên và đi làm việc khác.

Nếu mình cảm thấy lời chê đó có lý, mình sẽ bắt tay vào sửa lại. Việc sửa ở đây có khi chỉ là hiệu chỉnh lại một văn bản, theo góp ý của người khác. Có khi là việc rút kinh nghiệm cho một vấn đề lớn – đã sai – và không còn sửa được. 

Tùy theo cấp độ và tình thế lúc đó, làm được gì ngay, mình sẽ làm.

[3] Quay về tâm sự với trái tim 

Không biết có ai không hề cảm thấy đau lòng sau mỗi lời chê hay không? Nhưng nếu có, chắc chắn không phải mình. 

Mình thường xuyên cảm thấy đau khổ, cảm thấy mình kém cỏi, khiến người khác thất vọng, có mỗi việc tí tẹo thế cũng làm không nên thân, tại sao mình không đủ kỹ tính, cẩn thận, tinh tế hơn để nhìn ra các lỗi ấy trước khi việc đã rồi, vân vân.

Nhưng vì đã đau khổ nhiều lần, nên mình đã học dần cách bớt chì chiết bản thân lại. Thay vào đó:

Mình khóc. Nước mắt chảy ra thực chất là một cách tốt để não không phải nghĩ nhiều. Lúc đấy chỉ cần tập trung vào việc khóc thôi.

Mình uống nước. Thỉnh thoảng mình uống trà. Mình thả nổi tư duy để cho nó muốn nghĩ gì thì nghĩ. Ngay cả những suy nghĩ tiêu cực – khi được nghĩ chán chê rồi cũng mệt. 

Mình không đặt thêm câu hỏi. Tất cả những gì có thể làm, thì đã làm rồi. Cái gì không, tức là không làm được. 

Không vơ bất cứ sai lầm nào vào bản chất của chính mình. Đây là điều quan trọng nhất, lặp lại ba lần. 

Không vơ bất cứ sai lầm nào vào bản chất của chính mình.

Không vơ bất cứ sai lầm nào vào bản chất của chính mình.

Không vơ bất cứ sai lầm nào vào bản chất của chính mình.

Sai lầm, chỉ là sai lầm thôi. Cảm giác lúc bị nghe mắng xối xả vào mặt thì cũng tệ thật đấy. Nhưng hiểu là nó sẽ qua. Đó không phải cái tự dưng hiểu ra được. Chỉ có trải qua khổ sở rất rất nhiều lần rồi, mới tự hiểu được.

Sai lầm, chỉ là sai lầm lúc đó thôi. Nó không nói lên được gì về mình, bản chất của mình, hay cả con đường dài mình đã đi, và mình sẽ đi. 

Một lời chê bao giờ cũng choáng ngợp hơn một lời khen. Một ngàn lời khen chưa chắc đã làm bạn ngây ngất, nhưng một lời chê có thể đánh gục tự tôn của bạn.

Song, đừng sợ. Càng đi bạn sẽ càng có kinh nghiệm bóc tách sự việc và bản chất. Bạn có thể sẽ bớt sợ sai và bớt sợ bị chê bai hơn. Cảm xúc có thể sẽ vẫn rất tệ, nhưng bạn hiểu là nó sẽ qua.

Và một bài học quan trọng nữa, hãy nhớ cảm giác đó của mình, và cẩn thận hơn trước mỗi lời chê mình nói ra với người khác. Một bài học khó, nhưng cần thiết vô cùng. 

Nhược Lạc 

nghĩ về cá

[1]
Nhiều năm trước đây, hồi tôi còn ở với mẹ. Hàng tháng, mẹ đều nói tôi chở ra một ngôi chùa tương đối gần nhà.

Chùa to, rộng, với bờ tường chạy dài bên sông Sài Gòn. Người ta thường đến đây lễ Phật, mua vài xô cá trước cổng chùa, niệm vài câu chú, rồi xách ra ven sông thả phóng sinh.

Bao giờ ở dưới sông cũng sẵn một chiếc thuyền dài, hẹp, có hai thanh niên ngồi trên đó, chích điện rồi hớt lũ cá vào lại xô. Ban đầu họ còn ý tứ một chút, đợi người thả đi khỏi, rồi họ mới chèo thuyền ra chích điện. Sau, cảm thấy không việc gì phải làm thế, họ cứ vậy chèo ra. Người thả cứ thả, người chích cứ chích.

Có người trên bờ bực tức quá, xông ra chửi nhau với anh chích cá, bảo là đồ độc ác, bất nhân. Anh chích cá cũng điên lên, bảo, nếu không muốn người ta bắt thì đừng có thả nữa.

Tôi bật cười. Anh vừa nói một câu chân lý, không thể nào mà sai được.

Không thể sai được, nhưng mà cứ buồn. Buồn người ta cứ phải phóng sinh, buồn người ta cứ phải chích, buồn những con cá cứ phải bị phóng đi phóng lại, chích đi chích lại. Nếu nó biết nói, hẳn nó sẽ nói “Chúng mày làm ơn thôi đi được không?”

Một số người chọn cách khác, họ mua cá từ nguồn nuôi (chứ không phải bắt đi bắt lại) rồi thuê thuyền, chạy ra giữa sông mà thả. Nhưng tôi cũng không hiểu lắm về giải pháp này. Tôi đành chọn đứng ngoài.

Cứ hàng chiều, nhất là mỗi khi buồn, tôi ra bờ sông ngồi, nghe tiếng kinh từ chính điện vọng lại, nghe tàu thuyền qua lại, nghe tiếng chích điện xẹt xẹt bên tai, tiếng chửi bới rủa xả qua lại từ trên bờ dưới nước.

Đêm nọ, nằm mơ thấy bọn cá bơi đến bảo tôi: “Mày bảo chúng nó thôi đi được không?”

Tôi không biết tập hợp “chúng nó” ở đây phải kể những ai nữa, nên tôi đành lắc đầu.

[2]
Gần đây tôi viết chuyện, chuyện thiếu nhi. Hẳn bạn sẽ bảo phải là truyện chứ. Nhưng không phải đâu, nó chỉ là chuyện thôi. Chuyện kể bằng âm chờ nhẹ. Bằng những tối thứ sáu không có mấy cờ hoa, không có ngóng đợi nào rực rỡ, chỉ là chờ nhẹ, chuyện rất nhẹ, để lũ trẻ con đi dần vào giấc ngủ.

Trong đấy có một câu chuyện về “Con cá màu hồng muốn trở thành màu xanh”. Một ngày sau khi câu chuyện cá hồng được tôi kể ra, trên mạng xuất hiện một clip đàn cá heo hồng ba con bơi lội trên biển Hải Phòng – loài cá nằm trong sách đỏ, thứ đã lâu lắm rồi không xuất hiện, nay đã bơi về. Tôi nhớ mình đã hớn hở thế nào. Một niềm vui rất buồn cười của một con người đang ngồi trong bốn bức tường nhà, nghĩ về những con cá bơi trên biển ở rất xa mình.

Rồi hôm nay, tôi lại được nghe tin về xác cá heo hồng trôi dạt trên biển Hải Phòng, nghi do bị chích điện. Người ta hẵng còn cãi nhau về lý do, nhưng tôi thì tự dưng buồn quá và không cố gắng luận giải nữa.

Không có một liên quan nào, nhưng tôi đã nghĩ về những con cá bé tí ngày xưa bên bờ sông Sài Gòn. Hàng chục, hàng trăm cân cá đã được phóng sinh bên bờ sông ấy, mỗi ngày. Mỗi ngày.

Nhiều như là những nỗi buồn mà tôi đã bỏ lại.

[3]
Con tôi thích cá lắm.

Chúng nó thích từ cá vẽ đến cá thật, sung sướng mỗi lần đi đến đâu thấy nhà người ta có bể cá. Những chiếc bể rực rỡ màu đèn, xanh màu rêu, với đủ các loại cá bơi qua bơi lại.

Nhưng mà tôi chưa bao giờ làm cho chúng một chiếc bể cá nào trong nhà cả, và có thể là chẳng bao giờ. Tại sao vậy nhỉ? Tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ về điều này. Song có thể là tôi sợ buồn chăng?

Tôi không thích phải nuôi những con cá trong những chiếc âu thủy tinh, mà biết rằng chúng sẽ chết rất nhanh. Tôi không thích cầm vợt vớt xác từng con cá, rồi lại mua lượt cá mới thả vào bể.

Tôi luôn cảm thấy chúng nó sẽ bơi ra thành bể, gõ vào kính cốc cốc, hỏi “Mày có thể thôi đi được không?”

[4]
Thật ra, chẳng có ước nguyện nào mà không có mặt trái cả.

Khi thần đèn hiện lên và một đứa trẻ ước được trở thành người nhện, thì việc đầu tiên thần đèn làm là rút súng bắn vào bố mẹ của đứa nhỏ.

Khi chúng ta xuýt xoa vì những ngày trời Hà Nội xanh trong, về những đàn chim đang kéo về thành phố, về bọn cá hiếm đã quay về với biển, thì nghĩa là mọi hoạt động của con người đang bị dừng lại. Người ta đói và khổ và khóc và mong cầu những đoạn ngày này mau chấm dứt. Song nếu thế thì hẳn nhiên mọi thứ sẽ trở lại như trước đây. Chỉ số không khí tại Hà Nội hẳn sẽ quay về đỏ le lét như ngày nào.

Chẳng có gì thay đổi cả. Chẳng có ước nguyện nào toàn điều thiện.

Chẳng có con cá nào quay về trong giấc mơ tôi nữa.

Chẳng có gì quan trọng ở đây.

Nhược Lạc

Suy nghĩ về Thơ

Trần đời tôi chưa từng gặp ai nhận mình hay đọc thơ, kể cả các nhà thơ.

Mỗi khi tôi đọc một bài phỏng vấn một người viết, đặc biệt tác giả (có viết) thơ. Phóng viên sẽ hỏi: “Bạn có hay đọc thơ không? Bạn yêu thích tác giả thơ nào? Bài thơ bạn thích nhất là gì?”

Người được hỏi, sẽ bắt đầu bằng câu trả lời thế này: “À, thật ra tôi không hay đọc thơ.”

Sau đó, để chiều lòng độc giả, họ cũng sẽ cố gắng kể ra một vài cái tên, và đọc hai câu thơ mà họ cho là cũng ổn. 

Tất nhiên, những trường hợp kể trên không thể đại diện cho cả Việt Nam được, chứ đừng nói rằng nhân loại. Nhưng nếu như tôi gặp trường hợp ấy rất thường, thì hẳn nó cũng mang một ý nghĩa gì đó?

Nếu không ai hay đọc thơ, kể cả những nhà thơ, vậy thì ai sẽ đọc thơ? 

Tôi có đọc thơ. Không biết nếu đặt lên bàn cân, cùng các thể loại khác, thì tôi sẽ đọc thơ nhiều hơn, ít hơn hay ngang bằng. Song, quả thực, tôi không nghĩ đến chuyện đọc thơ hàng ngày. 

Hàng ngày tôi đọc báo. Kế đó, tôi đọc email. Tôi đọc một số sách chuyên sâu về truyền thông, dịch vụ, dinh dưỡng, ẩm thực – thứ phục vụ cho công việc hiện tại của tôi. Tiểu thuyết, truyện dài – thứ mang đến cho tôi những câu chuyện, những nhân vật mới, đời sống của họ – thứ kể tôi nghe.

Nhưng thơ không kể tôi nghe. 

Khi đọc một bài thơ, có thể tôi sẽ chẳng hiểu gì. Não tôi không hoạt động theo lối phân tích, như khi đọc “Sapiens: Lược Sử Loài Người” của Yuval Noah Harari. Tôi cũng không bị hút vào, đau đáu và suy tư, như khi đọc “Alexis Zorba, con người hoan lạc” của Nikoz Kazantzakis.

Thơ, giống như một hạt mưa, rơi xuống vào lúc ta không để ý. 

Ví dụ:

“dưới cánh bướm mùa thu
về đậu vách tường đêm
những cánh rừng yên ngủ”

(Phía khác – Nguyễn Đức Tùng)

Hoặc ân cần cất giọng lúc thưa người:

“những lời cũ kỹ
một trời thu để nhớ nhung
chuyện đời giản dị
chiêm bao tay nắm vô cùng ngón tay”

(Chiều hôm phố thị – Bùi Giáng)

Tôi nhận ra mình thường đọc thơ lúc lòng tha thiết quá mà không muốn nói, hoặc không biết phải nói gì. Cần có điều gì đó, ngắn gọn mà rộng lớn, bao la mà gom góp lại vừa lòng tay, để ta đặt mình vào đó ngồi nghe.

Thơ không cố kể một điều gì, dù trong đó, đôi khi ta nghe ra một câu chuyện. Song, mỗi người lại có thể nghe ra một chuyện khác nhau.

Khi Trần Dần hỏi:
“em ơi!
ai xui nhà ươm chín mái?
tơ ngâm chín vại
dâu xanh chín bãi
tằm ngã – chín nong..”


thì ta cũng không biết trả lời (mà cũng không cần trả lời), nhưng ta vẫn ở đó, để trải lòng mình, cùng tất thảy những nét cảnh mà nhà thơ vẽ ra. Từ hồ chín lá sen, từ còi tầm chín ngả, từ chín ngã tư mưa.

Tôi cho rằng, cũng vì sự không cố kể, mà thơ ca vốn có khoảng cách nhất định với đời sống. Ngay cả những bài thơ rất gần với đời, thì vẫn luôn chừa lại một khoảng: để bạn đọc thơ bằng câu chuyện của riêng mình.

“ước gì mưa mãi chẳng tan
để cho sấm cứ râm ran khắp trời
để cho em nép vào tôi
ôm chung một giọt mưa rơi xuống lòng.”

(Phố Nối mưa rào – Đồng Đức Bốn)

Câu thơ của người khác vang lên, mà lập tức lòng ta vơ vào thuật lại. Ai đọc lên mà không nhớ ngay một lần nào đó, đã cùng “em” đứng dưới hiên ngắm một trận mưa lớn – dù là mưa tưởng tượng, để “ước gì em nép vào tôi”.

Với tôi, mỗi bài thơ cũng là một bài nhạc – chúng có âm điệu riêng. Dẫu vậy, khó cảm hơn một bài nhạc.

Trước hết vì một bài nhạc đã có người làm nhạc, người hát xử lý giùm người nghe. Khi nghe, ta chỉ việc nghe nhận bình thường bằng tai. Cái dẫn, cái nhấn nhá, truyền cảm, người nghệ sĩ họ đã làm giùm ta hết cả. Như có chai rượu ngon trong tay, người thưởng thức chỉ việc rót ra ly rồi uống.

Còn một bài thơ có thể ví như một gói trà, gói cà phê. Nhận quà trong tay nhưng chưa uống ngay được. Phải có ấm, chén, tống, có bình, có phễu V60, có phin… Phải có thời gian, phải biết cách pha. Nhiêu khê hơn, và không chắc pha ra đúng ngụ ý của người sơ chế, người rang hạt, người sao trà. 

Một bài thơ khi nhận về, bạn có thể đọc bằng mắt, hoặc bằng miệng – và cảm giác chúng mang lại sẽ khác hoàn toàn. Thậm chí, mỗi lần đọc, bạn sẽ nhận ra mình đã ngắt nghỉ khác nhau, mình đọc bằng giọng khác nhau, bằng tâm trạng khác, góc nhìn khác, lứa tuổi khác. 

Nói cách khác, một bài thơ được tác giả viết ra, nhưng người đọc mới là người pha và thưởng thức. 

Tôi thì tin vào sức mạnh của thanh âm, cũng như tin vào việc một bài thơ nên được đọc lên thành tiếng. 

Trong quá trình thực hiện hai “đêm thi-ca” tại Hà Nội và Sài Gòn, tôi nhận ra nghệ thuật nào cũng cần một không gian được tạo dựng riêng biệt cho nó. (Hỏi sao phải cần đến phòng tranh, sân khấu nghệ thuật).

Ở đêm thi-ca, tôi chủ đích dựng nên một bối-cảnh-thi-ca. Mỗi vị khách tới đó, trên tay cầm ly rượu nhẹ, thảnh thơi ngồi xuống, chầm chậm lắng nghe từng bài thơ vang lên. Giọng nói cất lên thứ tiếng mẹ đẻ thân thuộc. Họ không vừa ăn cơm vừa nghe. Họ không vô tình nghe khi lướt mạng xã hội. Họ không nghe 30 giây. Họ nghe suốt hai giờ đồng hồ, trong sự tập trung hướng về sân khấu, hướng về thế giới của thi-ca.

Khi đó, người ta không chỉ nghe một bài thơ. Người ta nghe một cảm giác thơ. Một không gian thơ. Người ta chủ động tìm đến đó vì muốn nghe. Thế nên, người ta nghe.

Vậy bây giờ, thơ sẽ dành cho ai? Ai còn muốn đọc, muốn nghe thơ?

Tôi nghĩ rằng sẽ luôn có “ai đó” cần đến thơ, dù họ có biết điều đó hay không. Thơ đến vào ngày ta chẳng đợi.

Thơ đến, có thể vào lúc ta đã gõ các cửa, đã thử nương vào những sợi dây khác mà bất thành. Ta cần một tiếng nói thoát ra, nhỏ – ngắn, mà dõng dạc. Tiếng nói tâm tình. Tiếng nói gọi dậy. Tiếng mở cửa cho lòng tràn ra như biển. Tiếng líu ríu chim non hót lại. Tiếng giản đơn loài người muốn nghe.

Chừng nào ta còn sống, còn nhiều xúc cảm, nhiều nghĩ suy trong đầu, chừng đó, thơ còn cần thiết. 

Nhược Lạc

“bạn là ai sau 5 năm nữa?”

“Bạn là ai sau 5 năm nữa?”

Đã bao giờ bạn được hỏi câu này chưa? Tôi đã được hỏi khá nhiều. Và lần nào nghe thấy câu này, đầu óc tôi cũng trống rỗng. 

Hồi 15, 18, 20 không biết câu trả lời đã đành. Đến giờ, đã không còn gọi là trẻ nữa rồi, vẫn không thể trả lời được, và có lẽ không bao giờ trả lời được.

Cuộc sống của tôi thay đổi theo từng tháng, chứ đừng nói là năm. Những người gặp tôi cách đây 2 năm, thấy tôi bây giờ có khi còn chẳng nhận ra, chứ đừng nói là 5 năm trước, 10 năm trước. 

Vì vẫn luôn viết thư cho chính mình của tương lai, tôi nhận ra tôi đã sống khác, đã gặp nhiều điều khác-hoàn-toàn so với hình dung của chính mình trong quá khứ. Và tôi thấy ổn. 

Tôi thấy hài lòng với hiện tại của mình. Ngay cả khi những gì tôi đang có, đang làm ở hiện tại, không liên quan gì đến mộng ước xưa cũ, nhưng chúng tốt hơn. Chúng tốt hơn điều tôi có thể tưởng tượng.

Vậy, có nhất định phải trả lời cho câu hỏi: “Bạn là ai sau 5 năm nữa?” không?

Theo tôi là không. Hay nói đúng hơn đấy là một câu hỏi vô vọng. Không thể có câu trả lời. Không cần phải có câu trả lời.

Việc tha thiết muốn biết chúng ta của tương lai như thế nào, thường dẫn ta đến một số liệu pháp tâm linh nhất định. Đã rất nhiều lần, tôi nhận được thư từ các bạn trẻ, nói rằng nhà em đi coi bói, em nhờ người xem lá số tử vi, em nhờ bạn bốc bài…. và kết quả ra rất tệ. Bạn bị cái kết quả rất tệ đó ám ảnh tới mức sợ hãi. Bạn không biết làm thế nào để thoát khỏi ám ảnh đó.

Tôi đọc thư mà vừa thương vừa thấy giận. Sao lại đặt viễn cảnh của đời mình vào tay người khác như vậy. Nhưng tôi cũng hiểu rằng, đó là một kiểu tâm lý rất chung của con người, đặc biệt là người trẻ. Khi bạn bất an, hoang mang với hiện tại của chính mình, bạn cần một lời xác quyết, một động viên từ tương lai. Việc mong muốn “nhìn trước điều sẽ đến” cũng phổ biến thôi, nhưng xin hãy chọn mặt gửi vàng hơn. Ít nhất, hãy chọn một người mà sau những dự đoán đưa ra, họ có thể cho bạn một lời khuyên, lời động viên đúng. Còn không thì thôi.

Bạn tôi làm việc trong lĩnh vực tâm lý học, bạn nói rằng: “Khi ta lắng nghe một ai đó, chỉ được lắng nghe họ ở hiện tại, tuyệt đối không được đụng đến nỗi đau quá khứ – đó là việc của bác sĩ tâm lý. Bạn không có chuyên môn, mà bạn khơi nỗi đau của họ ra, rồi bạn rời đi, bỏ họ lại với một mớ hỗn độn, đau khổ, ngơ ngác không biết phải xử lý như thế nào. Điều đó thật kinh khủng.”

Ở đây, bạn có thấy việc ‘khơi ra nỗi đau quá khứ’ có những tương đồng với việc ‘dự đoán những thương tổn tương lai’ không? Và ý nghĩa của việc đó là gì? Vô nghĩa.

Đừng làm vậy với người khác nếu bạn không có đủ chuyên môn để giúp họ xử lý.

Còn nếu, bạn là một người trẻ, đang hoang mang với hiện tại của mình, không biết mình của 5 năm sau sẽ ra sao, mong bạn đừng chọn cách đi coi bói. Có thể bạn không để ý, chính việc coi bói cũng có thể là một tác nhân dẫn bạn đến tương lai mà bạn không mong muốn.

Hãy bắt đầu với hiện tại của bạn – thứ bạn đang nắm trong tay. 

Nếu e ngại về một tương lai không khỏe, hãy bắt đầu với bữa ăn ngày hôm nay. Hãy bắt đầu tập thể dục: 2 phút/ngày. Hít thở tập trung: 2 phút/ngày. 

Nếu e ngại về một tương lai nghèo khó, hãy bắt đầu học thêm một số kỹ năng, bắt tay tìm hiểu một số công việc có thể đem lại thu nhập.

Nếu e ngại về một tương lai cô đơn, không có người yêu thương ở bên, hãy bắt đầu yêu thương mình từ bây giờ. Hãy chuẩn bị một phiên bản bình an, vững vàng của mình – trước khi gặp được người yêu thương bạn.

Nếu bạn vẫn không thể vơi bớt hoang mang, lo lắng, bất an, hãy kể cho ai đó nghe (như những người đã kể tôi nghe). Ai đó cũng có thể là chính bạn. Hãy viết cho mình.

Điều đó quan trọng hơn việc cố tìm một câu trả lời ở thời điểm mà lúc đó bạn không còn là bạn nữa – bạn đã là một người khác rồi.

Nhân lúc vẫn đang là mình của lúc này, hãy bắt đầu với việc tận-hưởng-mình trọn vẹn. 

Nhược Lạc