viết cái này ra, để nhớ thôi chứ không gì…

Có lần nghe một người chị nói, rằng đến một thời điểm chị quyết định thôi nghèo, bởi vì chị gặp được người giỏi quá. Chị muốn mời người ta về quá, mà không có tiền để trả.

Tôi cũng đã được trải qua cảm giác này.

Hồi có con, tôi cũng đã quyết định thôi nghèo. Nghe thì buồn cười, nhưng đúng là như vậy. Từ đó đến nay, tôi đã bớt nghèo đi rất nhiều rồi, dù ở mức giàu thì còn lâu lắm. Nhưng từ một người không có mấy nhu cầu trong đời sống, nên làm mọi thứ rất làng nhàng, tôi đã biết thế nào là buộc phải cố gắng, đến tận hạn mức cuối cùng.

Cũng không biết như thế có phải là tốt không, nhưng nhờ vậy mà tôi giỏi lên rất nhiều. Vì giỏi lên rất nhiều, tôi có cơ hội được tiếp xúc và cộng tác với rất nhiều người giỏi.

Cảm giác đó rất là sung sướng. Ý tôi là, những người thật sự giỏi ấy. Không phải người tưởng mình giỏi.

Nhưng đồng thời, tôi cũng buộc phải trải qua nỗi buồn của việc gặp được những người rất giỏi, song không đủ tài chính để mời được họ. Hoặc, đã mời được họ, nhưng hiểu rằng thứ hiện tại ta đang gửi họ, chưa thật xứng đáng với tài năng này. Đó lại là, một nỗi buồn khác.

Cái ngày tôi gặp người như thế, tôi đã buồn xiết bao. Tôi đã ước mình, hoặc công ty mình, hoặc dự án mình đang theo, có đủ tầm vóc để trả cho những con người này, một mức thật sự xứng đáng.

Đôi khi, à hoặc là rất nhiều khi, tôi đành gom thêm những thứ mà tôi có, chủ yếu là tình cảm, để dành cho họ. Song, tôi cũng ý thức được rằng, tài chính vẫn là yếu tố cốt lõi, thực tế tác động đến đời sống cá nhân một người. Nếu ta thương quý ai đó mà chỉ thương bằng miệng, thì ai mà không làm được.

Nên tôi rất biết ơn những người sẵn lòng hỗ trợ tôi, đồng hành cùng tôi, dù lúc đó họ chưa thực sự nhận được sự ghi nhận xứng đáng bằng tài chính. Nhưng họ vẫn làm, vì thương quý, vì mong học, vì mong giúp, vì cảm mến con đường mà (chúng) tôi đang đi. Đó cũng là, một dạng phước báu.

Còn những tài năng quý đã vuột qua tay, tôi tiếc đấy nhưng mà rất hiểu. Nên chỉ tiếc một chút thôi, và vẫn thương yêu, cầu chúc nhau nhiều tốt đẹp trên hành trình đi tới.

Được nhìn thấy nhau, đã là một điều quý trên đời.

Nhược Lạc

những kết nối chất lượng

Nếu như được ở một mình là một nhu cầu cơ bản của con người, thì được kết nối – lại là một nhu cầu cơ bản khác. Tôi nghĩ rằng, ngay cả những người hướng nội nhất, cũng cần có những kết nối giữa người với người. Quan trọng là, những kết nối đó – cần phù hợp và chất lượng.

Hồi tôi còn nhỏ, dường như mọi kết nối đều xuất hiện theo cách người khác muốn, thay vì tôi muốn. Và một phần lớn nguyên nhân đến từ giao diện kém thân thiện của tôi, nên đa số các kết nối mà tôi có – đều đi đến kết cục thê thảm.

Nếu không phải là người khác chán nản và mệt mỏi, thì chính tôi cũng chán nản và mệt mỏi với những cuộc gặp gỡ theo công thức – mà cả hai bên, ngay từ ánh mắt đầu tiên, đã biết rằng ta không hợp nhau.

Sau này tôi biết được rằng, theo thời gian, và nhờ sự chuyển hóa từ những người thân quý, mà giao diện của tôi ngày càng dễ chịu và thân thiện hơn. Nhưng tôi nghĩ một nguyên nhân khác, còn đến từ việc tôi đã bắt đầu lớn, và được quyền chọn, hay chịu trách nhiệm cho những kết nối của đời mình.

Tôi may mắn có được những kết nối tốt ngay từ công việc của mình, và chị sếp cũ của tôi từng nói: thực ra, em đã “chọn” may mắn đó. Nghĩa là, chị giải thích, nếu em bước vào một nơi đầy toxic, và em “ngửi” thấy mùi đó, nhất định em sẽ quay ra ngay. Bởi vì em không chịu nổi đâu.

Quả là, tôi không chịu nổi. Mỗi lần “ngửi” thấy mùi drama ở đâu đó, tôi bèn nhấc mình đứng dậy. Tôi phải dời đi trước khi những sự rắc rối mờ mịt do con người tự tạo ra ấy, ám vào đời tôi. Bởi vì, nó là những thứ sẽ nuốt chửng toàn bộ năng lượng của mình, mà cần rất nhiều thời gian (ở một mình) mới có thể hồi phục được.

Tôi có thể làm việc ở cường độ cao, chứ không thể chạy theo giải thích và giải quyết các vấn đề thuộc về tin đồn hay phe phái cho nổi. Điều ấy không có nghĩa, những người thích điều ấy – là xấu! Tôi nghĩ mỗi người sẽ có cách sống và hành xử riêng, phù hợp với thế giới quan của mình.

Một chuyện tế nhị khác, đó là có những người rất rất tốt, họ không làm gì sai cả, nhưng mỗi lần ở bên họ, tôi đều rất mệt. Điều này thật ra rất khó giải thích. Giống như khi bạn nói bạn không thể ăn sầu riêng, thì một người thích ăn sầu riêng sẽ không thể hiểu được. Áp dụng với trứng vịt lộn cũng thế, chocolate cũng vậy, lòng gà, sa tế, mì cay 7 cấp độ…

Tôi chỉ là một người thích ăn gỏi đu đủ không cay. Rất nhiều người đã nói với tôi là cái này phải ăn cay mới ngon, hoặc ăn ít ít cay thôi cũng được. Nhưng vì tôi không thể ăn và cảm nhận được vị ngon của “cay” – nên điều ấy với tôi là vô nghĩa.

Cách giải quyết cho những chuyện này, theo tôi, đơn giản là chấp nhận sự khác biệt của mỗi người, sự phù hợp hoặc không phù hợp ở những mối quan hệ. Không ghét nhau, nhưng không cần phải ở bên nhau, hoặc không nên ở quá gần nhau. Không phù hợp với ai hoặc điều chi, thì chỉ rời đi mà không cần nói thêm gì về người ấy, nơi ấy. Vẫn giữ sự tôn trọng dành cho nhau, nhưng cũng tôn trọng chính mình, hiểu cho sự mệt mỏi của mình nếu phải gặp nhau. Khi mệt, cứ nói là mệt.

Không biết trên đời có kiểu người phù hợp với tất cả mọi người không? Thỉnh thoảng tôi cũng gặp những người thực sự rất rất dễ chịu, họ đối xử tốt với tất cả mọi người. Nhưng khi tôi hỏi họ có thấy mệt không, thì họ vẫn rất mệt. Và như thế, ta cũng cần phải đối xử tốt với chính ta nữa.

Vì có rất nhiều cách để yêu thương nhau trên đời này, một trong số đó, là hiểu rằng ta không phù hợp để ở cạnh nhau. Và nếu thế, thì rời đi cũng là một cách thương thật đẹp.

Nhược Lạc

lions sleep for 20 hours a day

“Did you know that lions sleep for 20 hours a day? They eat a fifth of their body weight in just one meal – so they can spend less time eating, and more time zzzzing.

Food is also important for animals closer to you. In winter, snow makes it hard for deer to find food. So they eat lots in autumn to save up energy. To help them, take some chestnuts to a wildlife park near you. Perfect deer snacks.”

Đó là những dòng được in trên bao bì của một loại bánh mà tôi rất thích ăn hàng ngày. Họ in chúng to, rõ ràng, ở một vị trí đáng ra sẽ dành cho những câu kiểu như “Bánh của chúng tôi được làm bằng tất cả tình yêu thương, với nguyên liệu tươi sạch…” Vậy mà, họ lại chỉ viết:

“Bạn có biết rằng sư tử ngủ 20 tiếng một ngày không? Chúng sẽ ăn một bữa thiệt bự, chiếm tới 1/5 trọng lượng cơ thể – rồi sau đó chúng sẽ có nhiều thời gian hơn để ngủ nướng…” Và cả “Hãy mang theo một số hạt dẻ đến công viên, số đó có thể trở thành bữa ăn vặt hoàn hảo cho những chú hươu…”

Thật là một kiểu nội dung khiến lòng người cảm động!

Hay như một tiệm bánh ở Hàn Quốc mà tôi có lần biết tới. Bên ngoài vỏ hộp bánh màu trắng tinh, người chủ sẽ viết lên đó một đoạn thơ hay đôi lời hát nhỏ mà chị yêu thích. Chỉ vậy thôi. Mỗi ngày, với mỗi người, tùy theo cảm hứng của chị, chị lại viết những lời khác nhau.

Tôi cố gắng làm một điều tương tự như thế, ở tiệm trà của mình. Với mỗi loại trà chúng tôi quyết định giới thiệu đến bạn, tôi sẽ đặt cho chúng một cái tên, và viết một bài thơ ngắn.

Như lục trà rang thơm – chúng tôi gọi là Củi, sẽ có bài thơ là “lộp cộp chân đi/ li ti đốm sáng/ củi nhà thắp rạng/ đón người thân xa/ nơi đây là, nhà”

Hay như búp trà rừng – chúng tôi gọi là Mây, sẽ có bài thơ là “chưa lên non cao/ ngắm hoa mận nở/ mây trôi xuống phố/ chở về miền thương”

Và như oolong Mộc Châu – chúng tôi gọi là Đỏ, sẽ có bài thơ là “ngọt mật trái chín cây/ hái trên gò má đỏ/ có câu thơ để ngỏ/ ba phần tư sáng tươi/ cất trong ngày đi tới/ sẽ mừng vui, sẽ vui”

Có đôi lần, tôi được hỏi vì sao lại làm khó khách hàng như thế, sao không để các nội dung thực tế hơn ở phía trước bao bì. Nhưng tôi xin thú nhận rằng, tôi muốn bạn tiếp cận với một hộp trà, trước nhất, bằng một bài thơ.

Kế đó, là một lời nhạc (thông qua đoạn mã Spotify trên nắp). Rồi sau đó nữa, khi đã mở vào, mới là một số thông tin thật ngắn gọn về nguồn gốc, loại trà hay gợi ý cách pha. Gọi là gợi ý, vì không dám đưa ra một công thức chuẩn chỉnh đóng khung. Chỉ muốn là những con số gợi mở, để rồi bạn được tùy chỉnh về lượng nước, lượng trà, hay thời gian ủ, theo đúng khẩu vị trà của mình.

Cũng như, túi bánh mà tôi vẫn thường ăn, có thể khiến một vị khách quen lâu lâu lại bỏ hạt dẻ vào trong túi, hay là, một phiên bản Việt Nam hơn, một chút gạo, hạt cho lũ chim sẻ bên hiên nhà.

Cho vui.

Nhược Lạc

bát cơm muối vừng

Có một thứ cảm giác dễ chịu mà mình hay nhớ về, mỗi khi người mệt mệt. Đó là hình ảnh mình ngồi co chân trên ghế, trong căn nhà tập thể khu Thành Công, đợi bạn trai mình rang vừng.

Anh rang rất từ tốn, vừng đen và lạc sẻ. Rang xong thì dùng một bộ cối và chày nghiền kiểu Nhật, gọi là Suribachi (擂鉢) và Surikogi (擂粉木), để nghiền lạc vừng. Mặc dù dụng cụ sử dụng khác nhau, nhưng hình ảnh đó vẫn làm mình nhớ đến ông ngoại – người hay mặc áo may ô trắng, quần đùi kẻ caro, và chậm rãi nghiền vừng ở phía sân sau – trong một căn hộ của khu tập thể Nguyễn Công Trứ.

Muối vừng ông làm, trong mắt mình luôn là thức muối vừng ngon nhất. Ngon nhì là muối vừng đen trong căn nhà tập thể Thành Công.

Bữa ăn gồm có cơm gạo xát dối thổi nóng với nồi gang, ăn kèm muối vừng lạc giã tay, và thêm một bát canh rau nóng hổi. Vậy thôi, mà lòng người mềm nhũn.

Ăn xong thì uống trà. Bắc nồi đun nước, sắp ấm bày chén, ngồi nghe tiếng reo liu riu rồi pha trà uống với nhau. Có lúc vừa uống trà vừa ăn kèm chút bánh, có khi chẳng cần gì. Có lúc cùng nhau xem một bộ phim, có khi tiện tay đọc một đoạn trong cuốn sách gần đó. Có lúc, chẳng cần làm gì, cứ ngồi yên thế, uống trà và nói đôi câu.

Đã có thời muốn sống in như thế và đừng khác đi. Đã có thời sung sướng với sự rảnh rang, và chưa bao giờ thấy buồn chán với nó. Đã có thời cây đậu ra trái, giàn thiên lý ra bông là một món quà sung sướng.

Bây giờ cả hai vợ chồng đều bận nhiều thứ quá, nhưng được thấy anh lại nghiền vừng, ninh canh… thì lại thấy vui – dù cái vui đã khác ngày xưa, cái vui đã hơi có tuổi và cột sống thì hơi bất ổn.

Song vẫn là một cái vui ấm cúng, của người trở về nhà nghe thấy hơi cơm rộn rạo lòng. Con cái ùa ra khoe hôm nay đi học biết thêm một bài ca dao mới. Và ăn cái gì cũng được, nhưng mà được ăn cùng nhau.

Nhược Lạc

chiếc hang riêng tư

Hôm bữa, em Tờ có nói một ý, rằng em có một nhu cầu lớn về việc được ở một mình. Có những lúc, không phải vì chuyện gì cả, chỉ là em muốn được ở trong phòng riêng, để ‘sạc pin’ cho chính mình. Nhưng người yêu em thì thấy rất khó hiểu và không thích chuyện đó, cứ hỏi là có chuyện gì buồn, sao lại không chịu nói ra…

Nghe tới đó, tôi gật gù quá.

Tôi nghĩ đa số mọi người đều có nhu cầu đấy, nhưng ở một số người, nhu cầu được-một-mình còn nhiều hơn người khác gấp bội.

Nhu cầu ấy thường phát sinh khi ta mệt, buồn hoặc có chuyện cần suy nghĩ. Nhưng không chỉ là thế, nó còn phát sinh khi ta đã trải qua việc tiếp xúc với người khác vượt thời gian mà tâm trí ta chịu được. Ta cần được quay về với chiếc hang của bản thân, để chui vào trú ngụ, tắt đi các thanh âm, và hồi phục.

Khi ta ở một mình, không có nghĩa là ta ghét việc ở cùng người khác. Nó chỉ giống như, ly nước lọc cần được uống sau bữa ăn. Như giấc ngủ dài hơn sau một tuần làm việc. Như tiếng chim hót ở công viên Tao Đàn, khi ta gác điện thoại và các notification lại. Như lúc được nghe chính mình cất tiếng nói, chứ không phải nghe người khác nói. Cho ta được nghỉ ngơi.

Tôi gật gù vì nhu cầu này ở nơi tôi cũng lớn.

Đa số những lúc ngồi sau xe anh, chúng tôi trò chuyện; song cũng có khi tôi im lặng đa số trên con đường. Những lúc đó, tôi đang nghỉ, hoặc, tôi đang viết. Tôi có thói quen viết trong đầu những suy nghĩ của mình, đến lúc thích hợp thì gõ vào máy hay viết lại xuống giấy.

Đa số những lúc ở nhà, chúng tôi nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc bọn trẻ con, tưới cây, uống trà với nhau… Nhưng mỗi khi tôi bảo, em cần khoảng 30 phút riêng tư. Thế là, chồng tôi sẽ thầu hết những phần việc khác, để tôi được chui vào một góc, viết lách làm thơ, nghe nhạc đọc sách. Lâu lâu tôi sẽ nghe thấy tiếng anh dặn bọn trẻ, rằng mẹ đang bận, không được làm phiền mẹ.

Tôi gọi những lúc như thế là những lúc nối dài tình yêu.

Không nhất định phải nối dài tình yêu chỉ bằng việc tối đa hóa thời gian bên nhau, ôm ấp hay trò chuyện. Ta cũng có thể nối dài tình yêu bằng cách chừa cho nhau những khoảng một mình. Như chừa cho nhau chiếc hang riêng tư của nhau không đụng đến. Như chừa cho nhau khoảng nghỉ ngơi, hồi phục một mình. Như chừa cho nhau tiếng nói cá nhân.

Để sau đó, nhất định sau đó, là lúc ta rời chiếc hang nhỏ ấm cá nhân, và vẫn thấy (những) gương mặt thân yêu ở đó. Ôm nhau, ấm áp và an toàn. Chuyện trò với nhau, cởi mở và dễ chịu.

Nhược Lạc

vui với đoạn đời bận rộn,

Buổi sáng đưa con đi học xong, hai vợ chồng đi làm. Lúc ngồi sau xe máy, nghe chồng bảo thử hình dung nếu cuộc sống chỉ có hai đứa, thì giờ này đang ở đâu và làm gì.

Có khi vẫn đang ăn chay, có khi đã lên núi sống, có khi đang đi du lịch liên miên ở chỗ này chỗ nọ và hài lòng với một vài công việc freelance. Có khi rất hay đăng hình đi nước này nước kia và nhận lại thật nhiều “tim” ngưỡng mộ. Có khi không mở quán trà, vì chỉ ngồi uống trà với nhau từ sáng đến khuya cũng đã thấy mãn nguyện. Có khi bạn bè mỗi lần muốn gặp, lại phải hỏi “Có đang ở SG/HN không?”.

Nghe là thấy ham rồi, song cũng chỉ là lời nói vui. Chúng tôi tự hiểu với nhau là thực ra đã từng có đoạn đời ta được sống đúng như thế. Quả là rất vui!

Bây giờ đang sống khác đi nhiều. Và cũng rất vui!

Hàng ngày được đi làm, đến công ty có đồng nghiệp dễ mến, sẵn sàng chinh chiến cùng ta hết dự án này đến dự án khác. Buổi sáng ngồi dưới Vườn làm việc, cô lao công đi qua, bảo: “Này, cô cho con!”. Nói đoạn, cô lôi ra từ trong túi áo một quả ổi còn thơm nức. “Ăn đi!” – y như hồi xưa mẹ đi chợ về hay dúi cho cái này cái nọ.

Buổi chiều được đón con đi học về, nghe tụi nó líu la líu lô. Được lôi nhau ra công viên chạy nhảy vài vòng rồi về ăn tối. Được trải nghiệm cảm giác ngồi kèm con làm bài tập về nhà như thế nào, bao giờ tức quá không chịu được thì vợ chồng thay ca cho nhau. Được trải nghiệm cái khó của việc làm cha mẹ, và vì thế, thông cảm cho cha mẹ mình nhiều hơn. Lắm khi cũng thấy không chịu nổi người già, nhưng nghĩ đến chuyện hồi nhỏ mình còn nhiễu sự hơn, bèn tặc lưỡi và đi nấu một nồi chè hạt sen.

Được hưởng thụ cái căng thẳng của một người làm việc cường độ cao, để thương mọi người xung quanh hơn. Nếu không, ta dễ thành một người ngồi đó và lên giọng nói mọi người không biết cách sống. Và trân trọng nhiều thứ mà ta đang có. Xong rồi, cầm lên đặt xuống, qua trái qua phải, có khi tự lực có khi nương nhờ, sau rốt, để hiểu ra điểm cân bằng của chính mình nằm ở đâu, gìn giữ mình ở đó.

Ai cũng có những đoạn đời cần phải sống như thế này, hoặc thế khác. Mỗi đoạn có những cái khó riêng, và những vẻ đẹp riêng. Chúng tôi hay bảo nhau là quý hết cả những đoạn đời đó.

Mà cái quý nhất là đã được gặp nhau và cùng đi qua những đoạn khác nhau. Có những đoạn thật chẳng dễ dàng gì, với chính đôi bàn tay đang nắm. Mà rồi vẫn nắm tay nhau.

Như thế, thật là quý quá.

Nhược Lạc

một ghi chép về tiếp đất,

Hôm trước làm buổi trải nghiệm tea and sound healing, có bạn hỏi Lam về “grounding”. Mình nghe và nhớ từ này, nên sau buổi đó đã tự về tìm hiểu xem sao.

Thì, grounding tạm dịch là chạm đất, nối đất hay tiếp đất. Điều này có thể hiểu theo nghĩa đen, là chân chạm đất, có sự tiếp xúc của cơ thể với mặt đất. Và cũng có thể hiểu theo nghĩa sâu hơn, đó là sự thấy rõ ta đang ở đâu vào lúc này, đang làm điều gì, đang cảm thấy như thế nào.

Những sự nhận biết này, quan trọng như một cái cây không thể tách rời khỏi gốc rễ của chính mình. Như luôn biết rễ đang cắm tới đâu, đất ẩm hay khô, lực hút của nước dẫn từ rễ lên đến ngọn, trổ ra lá hay hoa – như thế nào. Cây càng vươn cao, thì rễ càng cần chắc chắn.

Điều này làm mình nhớ lại quãng thời gian mình tập chạy. Vốn sức khỏe mình không phù hợp với việc chạy bộ. Nhưng người bạn của mình lúc đó thì không nghĩ vậy – anh tin rằng chủ yếu là mình chưa tìm ra được cách chạy phù hợp. Và phương pháp của anh như sau:

👟 Bắt đầu với việc đi bộ. Vừa đi vừa cảm nhận rõ ràng cảm giác của bàn chân chạm trên mặt đất, cảm giác của đôi tay, của làn da trong không khí (lúc mới chạy, mình hay bị tấy ngứa trên da đùi). Cảm nhận hơi thở, cố gắng đưa hơi thở đều, ổn định, và xuống sâu dưới bụng

👟 Tiếp tục với việc đi nhanh hơn. Vẫn chưa chạy, chỉ là đi nhanh, và duy trì các việc cảm nhận như trên. Khi ta tăng tốc độ thì mọi cảm giác ban nãy cũng có nhiều phần biến chuyển. Thích nghi với sự gia tăng tốc độ.

👟 Dần dần chuyển sang việc chạy bước nhỏ. Duy trì việc cảm nhận, bàn chân chỉ vừa đủ lướt trên mặt đất, không nhấc chân quá cao, đầu không nhấp nhô quá nhiều, cảm giác chỉ như một mũi tên, lướt đi song song với mặt đất.

👟 Tập với các bước sải dài, tăng tốc độ nhưng không quên chuyện cảm nhận mặt đất, không khí, bàn chân, bàn tay, làn da, mái tóc… Suy nghĩ chỉ tập trung vào chuyện cảm nhận (là đã đủ mệt rồi) không nghĩ gì linh tinh khác. Nếu cảm thấy việc tăng tốc làm thay đổi trạng thái ổn định của cơ thể, thì điều chỉnh lại, chạy chậm lại (nhưng không dừng) và căn chỉnh từng thứ trong “checklist”.

Những ngày tập chạy như thế, hóa ra lại là những ngày đưa mình về với trạng thái grounding tốt nhất. Một cách tự nhiên, mình cảm thấy sự kết nối rất rõ ràng với từng cú chạm chân, từng nhịp tay đưa, từng hơi thở một.

Sau này, trong những ngày không còn trên đường chạy bộ, mà chuyển thành đường chạy deadlines, mình vẫn thường nhờ về cảm giác đó – để chỉnh mình lại trạng thái cân bằng.

Lam bảo, hơi thở là cách dễ nhất để đưa mình quay về grounding. Vì khi mình để ý đến hơi thở, tự khắc mình sẽ để ý đến người mình trong từng tế bào nhỏ nhất. Giống như, một đám nhỏ ham vui, nghe thấy mẹ nhắc gọi giờ cơm, sẽ cắm đầu quay về ngôi nhà, chái bếp thân thương. Để biết đến giờ bụng đói, để biết thân cần dưỡng nuôi.

Để biết mặt đất – dẫu gần như thế, mà có khi ta quên mất cách nhận diện, tiếp chạm và kết nối sâu.

Nhược Lạc

về sự công nhận,

Mỗi việc mình làm, sẽ mang đến cho mình những kết quả khác nhau. Có việc mang cho mình thu nhập, có việc mang cho mình những lời khen, sự tán dương, có việc mang đến niềm vui đơn sơ, có việc mang đến rất nhiều vất vả mà ta không biết bao giờ mới đến ngày hái quả…

Mỗi người sẽ có những mong cầu riêng về kết quả của công việc. Nhưng tôi thường nghĩ rằng, mong cầu về sự công nhận và tán dương – là gian khó và vô vọng nhất.

Nói thế là vì, ta đang đặt hoàn toàn kết quả vào tay người khác – người tán dương. Như thế cũng có nghĩa là ta đang đặt toàn bộ hành trình, kế hoạch của mình vào một điều mơ hồ, bất định và vô nghĩa nhất.

Tất nhiên, một lời khen có thể giúp ta có thêm động lực đi tiếp, vượt qua tất thảy những gian khó, vất vả trên đường. Nhưng, nếu ta phụ thuộc vào nó quá, thì một lời chê, hay một lời-không-khen cũng có thể làm gãy đổ toàn bộ sự nỗ lực của bản thân.

Càng trẻ thì càng dễ bị tác động bởi lời khen – chê hơn. Trẻ – không phải ám chỉ độ tuổi sinh lý, mà ám chỉ độ tuổi trải nghiệm của chính ta trong một lĩnh vực nào đó. Khi ta mới bước chân vào một thế giới mới, một câu khen hay một lời chê, thậm chí một sự im lặng cũng có thể hất tung mong muốn đi tiếp.

Đừng đặt cả thế giới rộng lớn, cả con đường dài rộng của mình, vào tay những mơ hồ như thế. Hãy ít trông đợi nhất có thể, vào bất cứ lời nào của người khác.

Tôi đang làm việc trong lĩnh vực truyền thông, F&B, và tôi luôn nhớ lời sếp tôi nhắc nhở từ những ngày đầu tiên đi làm. Sếp nói: “Làm trong ngành này, được khách khen cũng đừng vui quá, bị khách chê cũng đừng buồn quá. Vì không có gì vô thường hơn những điều đó.”

Tập trung vào cốt lõi của vấn đề. Cải thiện chất lượng công việc. Cặm cụi làm tốt từng việc nhỏ một, từng dự án một. Và cứ tiếp tục như thế.

Đừng đợi lời sếp khen. Đừng đợi lời khách khen. Đừng trông đợi và mong cầu bất cứ lời khen tặng nào, của bất kỳ ai. Nếu có, hãy mỉm cười cảm ơn, như thể ăn miếng bánh gặp một miếng dâu tây, như thể đang buồn được cho viên kẹo. Hãy vui như rắc thêm phô mai trên đĩa mì của mình. Nhưng nếu không có phô mai, hãy cứ ăn đĩa mì tiếp tục, một cách ngon lành.

Đừng khao khát sự công nhận như một món ăn chính trên bàn tiệc. Đừng trông đợi sự xuất hiện của nó trên sân khấu của chính bạn.

Rồi thì, nó sẽ đến bên bạn, khi bạn không còn tha thiết tìm đến nó nữa.

Nhược Lạc

làm hòa với Tết, về nhà với nhau

Tết thì đã qua rồi, nhưng giờ mới khoe rằng mình cũng có bài Tết, trên tạp chí Elle. Mình nói về chuyện Làm hòa với Tết. Mình không phải người thích Tết lắm đâu, nhưng theo năm tháng, cuối cùng mình cũng đã tìm ra cách đón Tết phù hợp, cho chúng mình có cơ hội thương nhau.

Mời bạn cùng đọc bài:

Làm hòa với Tết, về nhà với nhau

Như bao người Việt khác, từ nhỏ tôi đã được nghe ca khúc “Happy New Year” của ABBA vang lên trong những giờ khắc chuyển giao năm mới. No more champagne, and the fireworks are through. Here we are, me and you, feeling lost and feeling blue… Sau này, khi đã lớn hơn và biết một chút tiếng Anh, tôi lại thường nghe người ta bỉ bai rằng người Việt không biết tiếng Anh, nên mới phát mãi một bài hát buồn đến thế để chúc mừng năm mới. Nhưng lạ thay, ca khúc đó, lời hát đó, lại đúng với tôi vô cùng. 

Tôi hay cảm thấy buồn và trống rỗng vào mỗi thời khắc thấy những vệt màu sáng rực rỡ nở bung trên nền trời đen thẫm. Happy new year, happy new year… song chẳng bao giờ tôi thực sự được ngắm pháo hoa và nghe hết một bài nhạc năm mới. Dường như tôi vẫn đang luôn làm gì đó. Cặm cụi bê sắp mâm lễ ngày Tết, đôi khi hẵng còn lau dở ô cửa sổ nhà mình. Giao thừa trong tôi là một tổ hợp các nghi lễ cần được làm trọn vẹn trong giờ khắc pháo hoa bùng nổ. Còn các ngày Tết trong tôi là tổ hợp của các mâm cỗ Tết kéo dài từ nhà này sang nhà khác. Dù là khi năm tuổi, hay mười tuổi, hay mười lăm tuổi, tôi vẫn luôn thấy mình ngồi lơ đễnh trước một chậu nước rửa bát bọt tung trắng xóa – tự hỏi mình đang ở đây làm gì, và ý nghĩa của những bữa tiệc như thế này là gì.

Tôi biết lễ Tết là dịp đoàn viên, chỉ tiếc rằng tôi không cảm nhận được niềm vui ấm áp đó. Tôi chỉ thấy Tết là dịp phải làm lụng nhiều hơn bình thường, người ta uống say và nói năng linh tinh hơn bình thường, những bao lì xì nhịp nhàng nhảy từ nhà này qua nhà khác, những mâm cơm Tết có đến hai tô canh khác nhau – không hiểu vì sao, những đĩa gà luộc không bao giờ ăn hết, những thùng bia cứ hết lại đầy… Tôi gật gù với chính mình, có lẽ tôi không thích Tết, hay Tết không dành cho tôi. 

Nhưng Tết bắt đầu dành cho tôi từ mùa Xuân năm hai mươi tuổi, khi tôi lần đầu phải ăn Tết xa nhà, và thấm thía cảm giác của người mong trở về. Tôi đi chợ Châu Á để tìm đủ nguyên liệu nấu một tô canh của người Việt. Tôi bày mâm ngũ quả, thắp nhang vào đêm giao thừa, dù không ai bắt ép. Tôi leo lên tầng thượng của tòa nhà, đứng đó, trong gió trời cuối năm, đợi những tiếng nổ lớn của pháo bông bung nở trên đầu. 

Oh yes, man is a fool, and he thinks he’ll be okay. Dragging on, feet of clay, never knowing he’s astray, keeps on going anyway…

Từ thủa ấy, tôi bắt đầu hiểu hơn cảm giác của một người đang ở nơi xa, mong về nhà ngày Tết. Và cũng từ thủa ấy, tôi bắt đầu học cách bóc tách những cảm xúc của mình với Tết – để một lần được làm hòa với nhau.

Hóa ra, Tết vẫn là một điều gì đó ấm cúng và mầu nhiệm trong tôi. Như một buổi sớm đông đi chợ, và nhìn thấy xe hoa ngang qua, chở theo những cành đào tươi thắm. Như chiếc bánh chưng mới gói trong nhà, báo hiệu những ngày sắp tới với đủ kiểu ăn bánh chưng sáng tạo, từ hấp lại đến chiên giòn, từ ăn với tương đến dầm với đường. Như bát canh măng, như đĩa thịt đông, như khay mứt trên bàn ngọt ngào mời gọi…

Nhắc đến là lại nhớ – những vị ngon trìu mến ấy, đã luôn là thứ mà tôi mến thương từ thủa bé thơ, chứ chẳng phải ghét bỏ gì. Những điều mà tôi không thích, hóa ra là cái khổ sở của những nề nếp quá đà, của những lễ nghi rườm rà khắc khổ, của thói quen ăn nhậu và nói xấu nhau, của những nhìn ngó đong đếm và tính toan với nhau, giữa chính những người nhà, người thân, người quen biết.

Những thứ ấy không phải điều mà một đứa nhỏ có thể đổi thay, nhưng là điều mà một người lớn có thể quan sát, phân tích và lựa chọn thay đổi được. 

Khi đã đủ lớn để được tách mình ra khỏi những hà khắc xa xưa, lần đầu tiên trong đời, tôi được cùng gia đình riêng của mình đón một cái Tết mà tôi gọi là: như-ý. 

Chúng tôi dọn dẹp cửa nhà như-thường-lệ, trong một ngôi nhà vốn đã ít đồ đạc và chẳng có mấy vật dụng trang hoàng. Chúng tôi tắm cho mèo như-thường-lệ và bón thêm một ít đất mới cho chậu hoa nhài. Chồng tôi đi chợ sáng xuân, mua về mấy cành đào nhỏ, cắm trong lọ thủy tinh trên bàn. 

Bếp nhà có sẵn một ít bánh chưng, giò thủ, củ kiệu… Ban thờ dọn dẹp và bày biện trái cây giản đơn, trong không khí thơm mùi nhang thảo mộc. Chúng tôi đã thống nhất ngay từ đầu là không cần nấu cỗ bàn cầu kỳ. Chỉ cần nấu cơm, ninh canh, luộc ít rau củ, cắt thêm ít giò… vẫn là một mâm cơm như bao mâm cơm nhà mình vẫn ăn quanh năm suốt tháng, họa chăng là có thêm đôi món là lạ, để ta nhớ ra rằng: đến Tết.

Mùa Tết năm đó, chúng tôi không “về” đâu, chỉ ở yên trong ngôi nhà vẫn ở. Ấy vậy mà tôi bỗng có cảm giác mình đã đi rất xa. Đi rất xa, từ một đứa trẻ buồn ngác ngơ vào mỗi mùa Tết đến – cho đến một người lớn bắt đầu tìm thấy niềm vui trong những ngày đầu xuân. Là những ngày xuân được thảnh thơi ngắm nhìn sự đâm chồi của cành lá, được từ tốn khơi một ấm lục trà Shan Tuyết nhâm nhi với bánh đậu xanh, là được tận hưởng sự nhẹ nhõm trong một không gian đủ giản dị cho ta trải lòng.

Để hiểu rằng sự “trở về” có khi xa tận chân trời, có khi gần ngay trước mắt. Sự “trở về” – với người này là may mắn hiển nhiên, với người kia là cả niềm mơ ước. Song tất thảy có lẽ đều bắt đầu tự việc nhìn lại và tự hỏi chính mình, hỏi nhau, về điều ta mong đợi: trong ngày Tết hay trong những ngày-bình-thường đang sống: Ta cần gì ở nhau? 

Nếu ta cần ở nhau sự gắn kết, tình cảm gần gụi ấm áp, thì ta có thể chỉ tập trung vào điều cốt yếu ấy, mà dần tháo xuống những rào chắn mang danh chân lý, những lề thói tưởng đúng mà sai, những e ngại về sự thay đổi. Vì nếu ta đã có những người thân biết vui, một ngôi nhà êm tiếng nói cười, một mùa Tết thảnh thơi và nhẹ nhõm, thì còn điều chi quan trọng hơn tất thảy những điều đó. Còn điều chi quan trọng hơn đâu. 

Nhược Lạc