tôi nghe chim hót bằng giọng bẩm sinh tôi đọc thơ với giọng bình thường
tôi gặp người qua đường gật đầu chào nhau sau lớp che mặt tôi chạm vào ánh mắt trong veo xa xăm, đâu đó tòa tháp đàng xa tôi gặt một giọt mưa qua lúi cúi đựng trên tay đầy mùa chín rộ
và những nỗi khổ dẫu quen thân cũng tựa vào mây mà mềm mỏng xuống
tôi mời em uống bất luận mùi em thương chén trà nhẹ hương nốt hoa trái em gặp, là mỗi miền sắp đặt ký ức quy định từ lâu
tôi có gạt em đâu nhưng xin nỗi sầu đừng trĩu xuống ngày ta gặp mùi hoa mộc cũ.
Không biết có nơi nào gọi là bến an trú cuối chăng, chứ theo tôi quan sát chính mình trong nhiều năm qua, thấy lòng vẫn luôn xao chuyển giữa hai trạng thái: có khi nhớ nhà, có lúc muốn đi.
Có khi ta chẳng thèm gì ngoài cơm nhà ấm êm. Nồi cơm mới đặt, không quên nhấn nút. Bát canh ngọt vị củ cải ninh mềm. Một đĩa trứng rán có hành thái nhỏ. Một đĩa rau luộc còn mướt xanh.
Có khi ta thèm được đi ăn ngoài tiệm. Ăn cái gì cũng được, miễn chẳng phải là thứ ta nấu. Đi đâu cũng được, miễn là ra đường, ngắm cảnh quan trải rộng bằng đôi mắt biết mở to. Hít thở căng phồng không cần đeo khẩu trang. Đi thật xa và gặp những người lạ mà ta chưa bao giờ gặp, chưa bao giờ nghe tên.
Có khi, ta lại thèm ấm êm.
Có khi thèm những đoạn đường rất xa.
Và, theo cách đó, chúng giúp mình bình ổn. Một sự thèm khác giúp ta cân lại chiếc cán nghiêng, nhắc ta về những ta khác, những kỷ niệm đẹp, những giấc mơ riêng.
Những nỗi nhớ và khát thèm có thể khiến ta khổ đau một chút, nếu giờ ta không có được. Song cũng chính điều ấy, từ bấy lâu nay, luôn là thứ khiến tâm trí ta giàu có hơn.
Bây giờ, có thể nhiều người đang thấy nhớ những cung đường đi hơn nhớ nhà. Nhưng tôi nghĩ ta cũng có thể nhớ nhà ngay trong lúc đang ở nhà.
Hôm qua khi xem bộ phim “Mộ Đom Đóm”, tự nhiên tôi nhận ra mình đã ăn cơm hời hợt như thế nào. Mình quên mất cái niềm hạnh phúc được ăn một bát cơm mới, được ăn canh, và có rau để ăn. Mình quên rằng để được ở cạnh nhau, bình thường như thế này thôi, vốn là điều chẳng dễ dàng gì – vốn đã là ước mơ tha thiết trong rất nhiều tháng năm tuổi trẻ.
Và tôi nhận ra, thỉnh thoảng ta vẫn cần những lời nhắc, bằng cách này hay cách khác. Một bộ phim, một bài nhạc, một đoạn thơ, một ấm trà hơi quen.
Vậy nên, khi tôi ngồi viết thơ, đặt tên cho hai loại trà đầu của Cửa tiệm của Lạc, tôi đã gọi chúng là: Củi và Sương.
Củi, là cảm giác sau một ngày dài, trở về nhà thấy lách tách bếp lửa ấm êm. Hơi cơm mới nấu, ấm nước mới đun. Cái bếp giữ lửa cho cả gia đình, cho những quây quần được dịp tỉ tê trò chuyện. Cho mâm cơm có món ngon nhà mình. Cho sớm tinh mơ có ấm trà thức dậy.
Sương, là cảm giác của sáng mây trên núi, mở mắt ra thấy mờ mịt trắng quanh mình. Hơi lạnh mà trong. Chung quanh đơn sơ mà rộng lớn, đủ đầy. Hít thở ngập buồng phổi. Trong không khí có mùi cỏ ngái, vị mật ngọt rừng, hoa nở thơm thoảng đó đây.
sau tất cả, những khổ đau này em đâu cần kể cho ai nghe nước mắt em thấm vào mồ hôi mùa hè thấm vào tháng Bảy con đường thấm vào vết giày màn đêm thấm vào ngày
mai sau hoa nở trên đây một giọt sương cũng biết ngày em khóc nỗi buồn chung rưng rưng cánh chuồn chuồn
ai đó sẽ nghe một tiếng chuông chùa múc nước lành từ giếng ai đó sẽ thay em cất tiếng hát mười điệu bi ai
cả nụ cười cũng thay em ngân lên dài mãi sau hồi gióng tiếng
mặt trời thay em sáng mai dù đôi khi cũng thay em ngủ lại
sau tất cả, vạn điều tĩnh tại vẫn ngấm ngầm nhớ em giọt sương sớm thật dài
Uống trà với nhau, không phải để nhớ, mà là để quên. Quên đi chuyện buồn không nói. Mà còn để quên cả chuyện vui.
Nước đã rót ra rồi, nhiệt đã vơi, cứ mỗi giây ta đếm thì nhiệt nước lại hạ dần. Đến đúng đoạn đó, đưa nước gặp trà, gõ thêm mấy khắc, rót ra, uống. Một lượt trà đã qua đời.
Đó không phải chuyện vui, càng không phải chuyện buồn. Đó là chuyện – ta kể nhau nghe vào một buổi chiều, với hồng trà; một ban mai – với bạch trà, hoặc đêm xuống – thủng thẳng với bát trà già bancha.
Đó không phải chuyện vui, càng không phải chuyện buồn. Chỉ là chuyện cần trôi qua như muôn ngàn chuyện vẫn trôi qua. Chỉ là ta không muốn níu.
Ta là một tấm lưới lọc, cho trà chảy qua. Theo lẽ nào đó, ta đứng lại. Theo lẽ nào đó, ta qua.
Gần đây, trong hòm thư cuatiemcualac, tôi nhận được nhiều thư từ các bạn trẻ, tầm 18, 20 chia sẻ về những nỗi băn khoăn khác nhau. Mỗi người đều có nỗi lo riêng, hoàn cảnh riêng, song điểm chung của hầu hết chúng ta ở ngưỡng tuổi đó là hoang mang giữa quá nhiều lối đi.
Tôi cho rằng đó là một biểu hiện của sự trưởng thành.
Trước đây, khi còn bé hơn, ta có một khoảng không nhỏ hơn để hoạt động: ở nhà – đến trường. Các mối quan hệ cũng xoay quanh cơ bản giữa người thân – bạn bè – thầy cô. Song, khi ta lớn lên, các không gian trở nên rộng lớn hơn, các mối quan hệ trở nên phức tạp hơn.
Đó là lúc những câu hỏi bắt đầu không chỉ để hỏi, mà nó thực sự đòi hỏi ở ta một câu trả lời.
Những năm tháng đó, tôi đã dành rất nhiều thời gian để ở một mình, và suy nghĩ về chính mình. Đây cũng sẽ là một gợi ý của tôi dành cho các bạn ở ngưỡng hai mươi tuổi, nếu bạn muốn nghe: Hãy ở một mình.
Ý tôi là, hãy tách mình ra khỏi môi trường cũ. Hãy thử ở riêng với chính mình trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới.
Đó có thể là hành trình từ quê nhà lên thành phố học đại học. Đó có thể là ra nước ngoài du học. Đó có thể là dọn ra ngoài sống tự lập, ở cùng người yêu.. Bất kể là gì, tôi cũng thấy việc dọn đi đó thật sự quan trọng với hành trình trở thành người trưởng thành.
Việc ở riêng buộc mình phải xây dựng và hoàn thiện các kỹ năng sống. Đó không phải là chuyện ta không muốn rửa bát, hay bị mẹ bắt quét nhà. Đó là câu chuyện nếu không rửa thì không có bát ăn, không giặt thì không có quần áo mặc, không dọn nhà thì một tuần thôi, nhà sẽ như đống rác và chính bạn cũng không thể chịu nổi, còn nếu không biết nấu ăn thì những ngày như đợt giãn cách này có thể làm bạn kiệt quệ.
Bạn vẫn có thể học được những điều này khi sống cùng gia đình. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm cá nhân và quan sát được từ người xung quanh, tôi nhận thấy rằng việc được tách khỏi gia đình là cách thực sự hiệu quả cho một cá nhân hoàn thiện mình. Không còn đường lui, không thể trì hoãn.
Và đó không chỉ là bài kiểm tra đối với các bạn thanh niên, đó còn là bài kiểm tra đối với mỗi vị phụ huynh, nhất là những phụ huynh Á Đông cơ bản luôn nhất mực yêu thương và mong muốn bao bọc con mình. Đây là bài học đòi hỏi kỹ năng khác hẳn những kỹ năng về chăm sóc và dạy dỗ mà phụ huynh đã có trước đó. Đây là bài học về sự buông tay.
Tôi đã nghe nhiều hơn hai mươi bạn trẻ không dám đưa ra quyết định gì đó với cuộc đời mình, chỉ vì “sợ bố mẹ em buồn”. Nhưng tôi đã nói với các bạn, nay cũng muốn nói cả với các vị phụ huynh nữa, rằng: mỗi người làm cha mẹ, được lập trình để chịu đựng được mất mát và đau thương.
Họ phải chịu được cái ngày con cái lớn vượt khỏi vòng tay họ. Phải chịu được cái ngày con cái suy nghĩ và hành xử khác hẳn với niềm tin đúng đắn trong lòng họ. Phải chịu được cái ngày con cái chọn không tiếp tục ở bên mình, nghe lời mình.
Con cái, khi đã lớn cần phải biết cách tự dàn xếp cho cuộc đời mình, tự đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm. Khi đó, dù quyết định ấy là đúng hay sai, người trẻ có thể tự chấp nhận, và không đưa ra bất kỳ lời oán trách nào với người nuôi dưỡng họ.
Để có được điều đó, ta cần phải trải qua điều đầu tiên, đó là buông tay nhau ra, cho một hành trình lớn thật dài đang đến.