Có một sáng tôi thức dậy rất sớm. Nhưng thay vì tưới cây như mọi khi, tôi lại ngồi im ngắm nhìn chậu cây lá lốt của mình. Đêm qua một trận mưa đã đổ xuống thành phố, nên sớm nay cả vùng cây toát lên cái vẻ tươi mát dễ chịu. Phiến lá xanh to bản hẵng còn đọng những giọt nước lớn trong veo. Tôi cứ nhìn mãi phiến cầu long lanh ấy, cho đến khi cú nhảy đột ngột của con mèo làm giọt nước bay lên.
Nếu có một cuộc bình chọn những món ăn ưa thích nhất lúc nhỏ, tôi sẽ không ngần ngại đặt muối vừng lên vị trí đứng đầu của bảng xếp hạng. Tôi nghĩ thế là vì hồi đó tôi thích cơm nắm, thích xôi lạc, xôi đỗ đen, thích cả khoai lang, sắn luộc. Mà không gì trong những thứ ấy, lại thiếu được sự góp mặt của muối vừng. Mẹ hay bảo tôi là đại diện tiêu biểu cho tình trạng “sướng quá hoá rồ” của lớp trẻ. Nghĩa là khi tôi sinh ra thì thời khó khăn nhất của đất nước đã lùi lại phía sau. Thế và, những món ăn phần nào nhuốm màu đói kém, cơ hàn, có thể khiến lớp người trước thấy mà rớt nước mắt, thì lại làm tôi sung sướng ngấu nghiến.
Có điều, tôi chuộng những món bình dân không có nghĩa là tính tôi dễ dãi. Ngược lại, tôi kén ăn, và chỉ chịu ăn muối vừng do ông ngoại làm. Không hiểu ông làm thì khác gì so với mọi người. Suy đi tính lại, cũng chỉ là giã những hạt vừng và lạc nhỏ ra, rồi trộn cùng muối, phải vậy không. Nhưng lọ muối vừng ông làm, bao giờ cũng bùi thơm, đậm đà hơn. Tuổi thơ tôi đã trôi qua với rất nhiều lọ muối vừng như thế.
Đã qua rồi cái thời những nhà sách thường to đùng, khô cứng và nhàm chán; sách thì cong queo, cũ kỹ do quá nhiều người cầm lên đọc. Bây giờ càng lúc càng xuất hiện nhiều tiệm sách nhỏ nhắn, xinh đẹp và mới mẻ giữa Saigon. Khởi điểm của chúng là từ niềm yêu thích sách vở của chủ nhân, cho tới một căn phòng nhỏ, thêm vài kệ gỗ và rất nhiều sách quý. Mỗi lần bước chân vào thế giới san-sẻ-riêng-tư ấy, mình lại không khỏi xao xuyến trong lòng. Vừa muốn ôm hết về nhà, vừa đau lòng giữ ví tiền, vừa ganh tỵ lại vừa biết ơn chủ quán đã tạo ra nơi chốn diệu kỳ này.
Mình gọi những chốn ấy là tiệm sách của tuổi trẻ lạc lối. Bước chân vào nhất định sẽ lạc – lạc trong lạc mất (cả hồn và tiền) và lạc trong lạc quan (sung sướng dù ăn mì gói). Nay mình chia sẻ vài góc nhỏ bé như vậy tại Saigon, ai yêu mến thì mời ghé thăm. Để tiệm làm ăn được. Để tiệm còn đó hoài. Cho mình loay hoay tuổi trẻ trong đó nữa.
Với mình thì mẹ không chỉ là mẹ, mà giống như bạn, như bạn thân, như người tình. Người tình bé nhỏ, trẻ mãi không già, vừa cứng rắn vừa mềm mại, chịu áp lực rất tốt, có thể mỉm cười và tìm cách xoa dịu căng thẳng trong bất cứ tình huống nào. Nhưng vẫn là người tình bé nhỏ. Thế nên vẫn sợ chuột, vẫn sợ sang đường đông xe qua lại, vẫn ghét ăn tối một mình và dễ tủi thân.
Sự hoa lệ đó không dành cho mình.. Hồi lâu mình đã biết điều này.
Thực ra được ăn diện xinh đẹp, nước hoa thơm và bờ môi chín mọng nó làm người ta tự tin lên nhiều khi xuống phố. Nhưng cũng nghĩa là người ta tự ti nhiều khi xuống phố.
Mình thích phụ nữ đẹp lắm, thích khí chất của đàn bà chín muồi. Nhưng ở đó có sự ngưỡng vọng, có điều gì không với đến được. Nó không khiến mình mỉm cười.
Mà mình mỉm cười khi được mặc đồ bộ tuềnh toàng thôi nhưng thoải mái ngồi xổm giữa um tùm cây lá. Cặm cụi mở bao đất, xới đất, trồng những cái cây nho nhỏ. Lau dọn lại tủ sách bụi bặm, kéo tung tất cả rèm cửa, đem mớ chăn nệm ra phơi. Đun một nồi nước sâm lớn, bên trên úp cái bát ăn cơm, đặt ngay chân cầu thang, mỗi lần khát nước lại chạy xuống làm một bát.
Cũng thế, xúng xính váy áo bước vào quán cafe đắt tiền ngồi chuyện trò với anh thì vui. Nhưng vui hơn nếu hai đứa ở nhà, anh sửa quạt, em lau bếp. Em nấu nướng, anh rửa xe. Ăn bữa cơm giản dị, cười nói không cần ý tứ. Ăn xong có kẻ rửa bát, có đứa hãm trà.
Cũng thế, làm một cô gái được nhiều người nhắc đến thì cái tâm tự hào dễ thỏa mãn lắm. Thấy vui, thấy mình đặc biệt. Nhưng sẽ vui hơn nếu biết mình là một cô gái vô danh, ra đường không ai biết, về nhà chả ai hay. Không ai khoác lên mình tấm áo nào, sự kỳ vọng nào, thần tượng hay căm ghét nào.
Ăn cơm cũng thấy ngon hơn, cắt móng chân cũng thấy vui hơn.
Trong công cuộc cố gắng dọn lại cái ổ chuột của mình sao cho tử tế, tôi đã moi ra tất cả những thứ đồ cổ lỗ mà mình gom góp, sưu tầm, lưu giữ suốt bấy lâu qua. Tất lẽ dĩ ngẫu nhiên, tôi cũng đụng phải những mảng ký ức loang lổ của một phần tuổi trẻ. Ấy vừa là nét đáng yêu vừa là sự trả giá đối với một cô gái có quá nhiều quá khứ.
Một phần trong số đó là hộp cờ vây đã màng lên những lớp bụi đủ để tôi ho khục khặc. Cái giẻ vàng thấm nước khi lau lên hộp dường như muốn biểu tình vì dám đổi màu của nó trong vòng một nốt nhạc như thế. Và khi mở hộp ra, những quân cờ nằm im dần đứng dậy, và lăn dài lăn mãi trong lòng tôi về một chốn rất xưa.
Mười ba tuổi, lần đầu tiên đọc Hikaru no go, lần đầu tiên thấy xúc động về một môn cờ, lần đầu tiên cùng anh trai đi mua bộ cờ trong nhà sách, lần đầu tiên đọc luật cờ, ván cờ đầu tiên. Bỏ ngang.
Mười lăm tuổi, lần đầu tiên cùng cô em gái chơi cờ, lần đầu tiên phát hiện ra thế “nấc thang lên thiên đường” – vẫn chưa biết phải gọi nó là “chinh quân”, lần đầu tiên lên mạng tìm người chơi cờ cùng mình, lần đầu tiên đòi mẹ chở lên nhà thi đấu Trịnh Hoài Đức để tìm một cái câu lạc bộ cờ vây đã đóng cửa. Bỏ ngang.
Suốt từ hôm đọc những lời trong nhật ký của cụ ông viết cho người vợ của mình, tôi đã định viết gì đó. Vốn đây không phải lần đầu tôi chứng kiến những chuyện tình cảm động đến cuối đời, nhưng khi nhìn thấy bức hình hai cụ chụp chung với con cháu và thấm lòng mình bằng những lời tha thiết đó, trong tôi đã dầy lên cái thương nhớ đối với ông bà ngoại.
Tôi không có nhiều kỷ niệm với gia đình bên ngoại. Chỉ đôi lần trong năm mẹ đưa lên nhà ông bà ăn giỗ hoặc ở chơi với các chị. Thực thà mà nói, tôi rất sợ bà ngoại. Thấy bà khó tính, hay quát mắng, càm ràm. Chỉ thích ăn cơm ông nấu và uống chè xanh trong cái ấm to kềnh. Sau này lớn lên thì lại đi xa, những dịp được đặt chân tới căn nhà phố ấy lại càng ít ỏi. Rồi ông mất, rất nhanh. Tôi nhận tin vào một đêm ở đất nước xa lạ. Không khóc tí nào, tôi ôm đàn guitar gảy vài điệu hơi buồn, rồi nằm im.
Đọc Việc Làng của Ngô Tất Tố mới thấy rõ sự khác biệt của báo chí ngày nay và báo chí…ngày đó. Nếu như bây giờ ta đọc Thanh Niên, Tuổi Trẻ,.. thấy những sự việc đơn nhất được kể ra, thì tập phóng sự của Ngô Tất Tố (đăng trên tuần san Hà Nội tân văn) lại là những mảng báo khái quát thành những trang văn.
Tất cả tên người và địa danh đều được giấu đi, chỉ còn giữ lại cái tổng quan. Bởi đó đều là những điều không-của-riêng-ai, thôn xóm nào cũng gặp, làng quê nào cũng chung. Cho tới bây giờ, bây giờ là năm 2014, tôi đọc vẫn chưa thấy có gì cũ đi. Có thể đã thay tục này, lệ kia, nhưng cái cốt lõi “phép vua thua lệ làng” với những luật ngầm vẫn trì ám con người ta in như vậy.
Ngày xưa đọc “Nghệ thuật băm thịt gà” trong sách giáo khoa chỉ thấy vui, thấy bác Mới giỏi nhỉ. Giờ nghiền ngẫm đủ 16 mảnh ghép của chốn hương thôn Bắc kỳ, mới thấy rùng mình. Một cái cỗ oản tuần sóc đã oằn vai người đàn ông thành bướu lạc đà, đã khiến tác giả quả quyết “ai bảo xương cứng, tôi xin nhất định cãi là xương dẻo”. Bởi để làm bệ đỡ cho những thúng kĩu kịt thì cái xương vai đã cong lõm hẳn xuống, chẳng khác gì chiếc vòng cung. Vậy mà vẫn chưa xong, ông còn phải dỡ luôn hai gian nhà làm củi bán đi lấy tiền mua gạo. Trong lúc người ta gật gù khen ông ấy tháo vát, khen oản của ông ấy tốt và chuối của ông ấy mẫm, thì tác giả chỉ dám hỏi một câu ái ngại “Bao giờ ông lại sửa tuần sóc thứ hai?”.
Trong nhà có ba cái kệ sách. Sách chia theo từng thể loại, giai đoạn, tác gia… Những cuốn sách bìa xanh đỏ nâu vàng khác nhau. Những cuốn sách dày mỏng khác nhau. Những cuốn sách đến từ Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ. Những cuốn sách có ép hoa và lá. Những cuốn sách vẫn còn ghim đánh dấu sách. Những cuốn sách có gạch chân và ghi chú bên trong. Những cuốn sách mình không phải chủ nhân đầu. Những cuốn sách bên trong có chữ ký và lời đề tặng. Những cuốn đã nhét vào balo trong bất kể chuyến đi nào. Những cuốn sách được đọc đi đọc lại, những cuốn sách chỉ đọc một lần.
Để kệ sách rất bụi, giấy mau vàng. Một tuần một lần phải dỡ sách ra mà lau và phủi bụi. Đôi khi tự hỏi những cuốn sách có vui lòng khi nằm trong tay mình không. Nhưng buồn nhất chắc là những cuốn chưa bao giờ được đọc. Có cuốn nằm mấy năm trời rồi nhưng cũng không đọc.
Làm sao để một cuốn sách nằm trên kệ không chết già ở đó, mà còn được nâng niu trên tay người, nhảy nhót trong trí não và vuốt ve tâm hồn họ, để theo họ trên khắp những hành trình, thấy được cả nụ cười và nước mắt của họ.
Làm sao để tìm ra và viết ra những cuốn sách như thế.