cách một quyết định ra đời

Một quyết định ra đời khi bạn đứng giữa một ngã ba, hoặc ngã tư, hoặc ngã năm. Bạn cần phải chọn một ngã, và bỏ đi những ngã khác. Vậy, quyết định của bạn là gì? 

Dù là gì, thì cũng là chọn cái này, và bỏ đi những cái khác. Và luôn luôn, một quyết định được ra đời bằng sự tính toán – dù ta có biết là mình đang tính toán hay không. 

Những sự tính toán được diễn ra bằng cách dựa trên những kinh nghiệm mà ta từng có, cộng với suy luận, suy đoán và sự dứt khoát cần có. Câu hỏi càng khó, lựa chọn càng nhiều, thời gian càng gấp, thì càng khó chọn. Song, tôi nhận ra cái khó nhất trong việc đưa ra quyết định, chính là mình có bao nhiêu kinh nghiệm trong việc ra quyết định.

Nếu bạn càng có nhiều kinh nghiệm trong việc tự ra quyết định, và chịu trách nhiệm với việc đó; thì ở lần ra quyết định tiếp theo, bạn sẽ có nhiều mẫu cho não bộ nghiên cứu, rút kinh nghiệm, đưa ra giải pháp có phần sáng suốt hơn. 

Song, nếu bạn chưa từng, bạn là một lính-mới trong việc quyết định, mẫu số bằng 0, thì mọi lựa chọn đưa ra, dù đúng hay sai, đều chỉ dựa vào ăn may.

Tôi luôn nhớ về mình năm lớp 12, khi tôi buộc phải chọn nên thi vào trường đại học nào, tôi nhận ra là mình không biết. Mình cùng lắm chỉ có thể chọn dựa vào điểm số của mình, và lời khuyên của (rất nhiều) người xung quanh. Thậm chí, khi người ta nói rằng đại học không phải là con đường duy nhất, thì tôi và nhiều bạn học khác của mình, cũng không biết các con đường khác là đường nào. Chúng tôi, sau 18 năm rất ít khi được quyết định về đời mình, bỗng nhiên buộc phải đưa ra một quyết định cực kỳ to lớn. Ấy là chưa nói đến những bạn sau 18 năm vẫn chưa được đưa ra quyết định ấy, mà phải tiếp tục làm theo lời của người khác. 20 năm, rồi 24 năm sau cũng vậy…

Thật ra không phải tự dưng mà phụ huynh ít trao quyền quyết định vào tay con cái. Lý do là thường thì chúng nó hay làm sai. Hay ít nhất, là sai theo định nghĩa của phụ huynh. Khi bạn biết một thứ là Đúng, rồi bạn nhìn thấy người thân của mình đang đâm đầu vào một quyết định Sai – cảm giác đó khó chịu lắm. Vậy nên, người Đúng sẽ có xu hướng quyết định giùm người Sai.

Nhưng người ta có thể quyết định giùm nhau bao lâu trong đời?

Đến một lúc nào đó, khi đã mệt, người Đúng bỗng nhiên buông tay, và bảo: Giờ mày đã lớn, hãy tự quyết định về đời mình. Khi đó, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm chưa từng ra quyết định, người Sai bỗng phải đưa ra những quyết định. Bạn thử đoán xem chúng có sáng suốt hay không?

Vậy nên, giống như việc học từ thấp lên cao, việc đưa ra quyết định nên được học càng sớm càng tốt – khi cái đúng-sai của những quyết định còn khá vô hại. Như chọn ăn trứng hay ăn chả, ăn củ cải hay ăn cà rốt, ăn hay nhịn ăn, làm hay không làm. Tự chọn và tự chịu.

Con tôi đã tự chọn nhịn ăn khi cháu thấy mệt. Và chọn ở một mình vào ngày cháu không muốn nói chuyện với ai. Chọn mặc áo màu hồng kèm áo khoác màu tím, đeo nơ ở cổ, đi tất rồi đi xăng đan đến trường – tin tôi đi, trông kinh lắm. Chúng tôi dạy cháu đếm số, và cháu học hăng say đến số 30. Khi được hỏi có muốn học đếm ngoài 30 không, thì cháu bảo cháu chưa muốn. “Con thấy 30 là đủ rồi, còn lại để sau nhá.”

Thật ra tôi không biết gì về chuyện dạy con. Nhưng việc tiếp xúc gần với trẻ con cho tôi thấy nhiều bất ngờ mà trước đây tôi chưa biết. Một trong số đó là khả năng tư duy độc lập của trẻ con có được từ rất sớm. Tôi không biết chính xác nó sớm tới đâu, nhưng có vẻ nó không đến hoàn toàn từ quá trình dạy dỗ. Hai đứa trẻ sát tuổi, sống cùng trong một gia đình, hưởng thụ mọi thứ giống y hệt nhau, có thể hoàn-toàn-khác-nhau. 

Cách chúng suy nghĩ, hành động, cảm thấy, biểu thị… hoàn-toàn-khác-nhau. 

Vậy, cách chúng ra quyết định cũng sẽ hoàn-toàn-khác-nhau.

Thế thì, làm sao tôi biết cái nào là đúng cho đứa nào. Hay nói cách khác, làm gì có cái đúng nào. Chỉ có thể thử và sai và rút kinh nghiệp và thử lại và rồi lại sai, lại rút kinh nghiệm và thử lại. Và cứ như thế, cho tới hết đời.

Nói đến đây tự nhiên tôi lại nhớ ra rằng, có những người bố và mẹ thậm chí còn không được ra quyết định làm bố và mẹ theo ý mình. Họ cần phải ra những quyết định phù hợp với quan điểm của cả họ hàng nội ngoại, hàng xóm láng giềng, bạn bè gần xa, và cả xã hội. Nếu người bố và mẹ ở độ tuổi trưởng thành còn như vậy, một đứa trẻ phải làm thế nào?

Cách một quyết định ra đời, nên được hiểu là cách một người được chọn và được chịu trách nhiệm về điều mình đã chọn. 

Dù đúng hay sai, đó là cuộc đời của họ. Còn mình? Mình hãy sống cuộc đời của mình. 

Nhược Lạc

và mùa đông lại đến

Tôi sinh ra vào ngày lạnh nhất của mùa đông. Thật tội mẹ tôi, vượt qua cái lạnh cắt da cắt thịt, với bốn cái lò sưởi đặt quanh giường, và sinh ra một đứa con gái nhỏ, yếu, tim bẩm sinh và cực kỳ khó nuôi.

Bằng một điều kỳ diệu nào đó, tôi vẫn lớn lên từ từ, dù hơi còi. Sống được và lớn lên. Nhưng mỗi mùa đông đến, thay cho lời chúc mừng sinh nhật, lại là một lời cảnh báo với sức khỏe của tôi. Đủ thứ bệnh-của-mùa-đông như xoang, khớp, cảm lạnh… Sức đề kháng của tôi có thể chịu đựng ổn trong những mùa còn lại, nhưng mùa đông thì luôn đánh gục tất cả.

Vì điều ấy, cơ thể tôi đã luôn bật cảnh báo cho mình từ mỗi độ thu về. Giữ ấm cổ và lòng bàn chân. Thoa dầu trước khi đi ngủ. Luôn có máy sấy theo mình. Mỗi khi chớm lạnh, dùng máy sấy sấy dọc sống lưng, bụng, lòng bàn chân tới khi rịn mồ hôi. Ngâm chân và/hoặc ngâm mông đều đặn, lau khô người, nằm nghỉ. Uống trà, nước ấm trong ngày. Ăn canh ninh nhỏ lửa. Ăn cháo hoặc súp hầm trong những ngày mệt bụng. Khi đi xa, trong túi lúc nào cũng thủ sẵn vài món đồ-phòng-thân, như dầu tràm, bột sắn dây, củ sen, mơ muối…

Tôi làm tất cả những điều ấy, cặm cụi như một người già trước tuổi. Dù vậy, theo cách đó, tôi đã không còn sợ mỗi mùa đông đến.

Chỉ là, biết mình phải làm gì.

Đó có lẽ là món quà của tuổi trưởng thành,mà người ta vẫn gọi đó là: kinh nghiệm.

Rất khó để biết những điều ấy ngay từ đầu. Nếu chưa từng đau đớn mệt mỏi vì những căn bệnh dai dẳng, khó lắm để hiểu được một câu cũ mèm như: Có sức khỏe là có tất cả.

Những điều kể trên, có lẽ chỉ giống như lời càm ràm của người già, mà lũ trẻ luôn nhanh chóng nhận ra và bỏ chạy ngay từ tiếng thứ hai. Song, nếu người trẻ ấy từng có lần lâm bệnh nặng, hoặc đơn giản là yếu từ trong trứng, thì một cách hiển nhiên, nó sẽ biến thành lối sống.

Nếu không sống thế thì làm sao mà sống được.

Nhưng có những người không cần sống như thế. Tôi biết rất nhiều người khỏe mạnh. Họ mặc áo phông và quần đùi giữa mùa đông. Họ leo núi trong ngày bão. Họ chạy 10km, 15km ngay từ lần đầu xuống đường mà không cần tập qua. Họ ăn bất cứ cái gì trên đời cũng thấy hợp, thấy ổn, thấy không đau bụng, đau cổ, khó tiêu. Họ đặt lưng xuống giường là ngủ. Họ thức nhiều đêm không biết mệt.

Vấn đề là không ai biết trước mình là loại người nào, nằm ở điểm nào của sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Chỉ có cuộc đời, theo thời gian, là đưa đến câu trả lời.

Đó không phải kiểu câu trả lời rốt ráo và chắc nịch. Đó là kiểu từ tốn, rả rích, ngấm ngầm mang đến, ngấm ngầm đổi thay. Bạn không thể tìm thấy nó trong cuốn sách nào cả. Cuốn duy nhất tồn tại đáp án thì bạn đang viết. Viết đến đâu, biết đến đó.

Mỗi mùa đông đến, cái chuông báo trong người tôi vẫn réo lên từ khúc giao mùa. Nhưng đã không còn ầm ĩ, sợ hãi và căng thẳng. Nó chỉ kêu lên khe khẽ như một chiếc chuông đầu hè thấy gió, kêu để biết vậy thôi.

Và tôi từ tốn đặt lên bếp một ấm nước, pha một ấm trà. Thái củ cải, khoai tây hay cà rốt, củ sen, ninh cùng nấm, cùng rong biển, táo đỏ. Hòa nước ấm già ngâm chân.

Trong một giai điệu của sự thưởng thức, chứ không còn là điều cưỡng ép.

Nhược Lạc

nghĩ về chuyện cưới

Ngày này nhiều năm trước, chúng mình dắt nhau đi thử váy cưới, trong niềm hoang mang của hai đứa trẻ chưa biết gì về cưới xin.

Hồi đấy, lần đầu tiên chúng mình biết thế nào là cãi nhau. Buồn cười thay, ở bên nhau bao lâu chả to tiếng lần nào, nhưng động đến đám cưới một phát là ai cũng căng thẳng. Hồi đấy, mình đã đổ lỗi cho đủ thứ chuyện khiến mình phải làm cái này, phải làm cái kia.

Nhưng giờ, sau khi đi qua cái đám cưới năm đó đủ lâu, nhìn lại, mình chỉ thấy rằng: mình đau khổ phần nhiều là do chính mình….đau khổ. :))

Nghe trớt quớt vậy đó, nhưng thật ra, hồi ấy mình đã luôn muốn hơn, muốn khác đi. Mình tưởng mình muốn một thứ giản dị, nhưng thật ra mình làm phức tạp vấn đề. Mình tưởng mình đấu tranh cho cách sống mà mình muốn, nhưng thật ra chỉ muốn người khác theo ý mình, (trong khi lại không nghe ý của người khác). Mình tưởng, đám cưới là ngày của mình, nhưng thật ra không phải. Đó là một ngày, mà người ta muốn được gặp nhau, nhân dịp có hai người kết hôn, vậy thôi. Nếu hiểu và chấp nhận cái lẽ giản đơn này của văn hóa truyền thống, có lẽ mọi thứ đã dễ chịu hơn rồi.

Với cô dâu chú rể, đó chỉ là một ngày thôi. Cái thật sự đang chờ bạn là muôn ngàn những ngày về sau – hai bạn được ở bên nhau. Còn cái ngày mà bạn cần mặc đẹp và cười tươi kia, hãy chỉ mặc đẹp và cười tươi thôi. Và vậy thôi.

Những ngày này, mình nhìn thấy nhiều đám cưới đặc biệt: những đám cưới online, những đám cưới mà cô dâu chú rể đứng bên chốt chặn rồi quay về, những đám cưới hoãn lại vô thời hạn… Hẳn đây là điều không ai mong muốn cả. Nhưng vẫn xin nói rằng: đó chưa chắc là một điều tệ. Nó chỉ là một điều thôi.

Nghĩ về chuyện cưới, chỉ mong sau này người ta nghĩ về nó một cách bình thường hơn. Nó đúng là một dịp trọng đại, nhưng chỉ trọng đại với hai người trưởng thành – đang học một bài học lớn, là cách sống cùng nhau. Sự trọng đại đó, không thể thể hiện bằng quy mô, bằng cách thức, bằng hình thức, bằng những lời khen-chê hay những con số tiền mừng. Sự trọng đại đó âm thầm, như một hạt đậu vùi trong đất. Ai biết ngày sau sẽ nảy những gì.

Nghĩ lại ngày cưới, thì ngày cưới thực sự trong mình, không phải một tháng trời vật vã với chuyện cưới xin, mà là cái ngày chúng mình dọn vào ngôi nhà còn nồng mùi sơn mới. Mình đốt một ít bồ kết, vỏ bưởi để xông nhà cho ấm và tẩy mùi. Anh phát quang những bụi cỏ, trồng thêm một ít cây. Chúng mình dọn sạch cái hồ nhỏ ngoài sân, rồi đi mua một ít cá thả vào. Anh bắc một nồi cơm mới, mình cắm một lọ hoa mùi già.

Chuyện chỉ có vậy, mà thôi.

Nhược Lạc

cái lớn lao không bao giờ chạm đến

Khi tôi vừa ngưng lại chuỗi workshop mà mình theo đuổi suốt hai tháng trời, thì tôi lăn đùng ra ốm. Không phải kiểu ốm bệnh nặng nề gì, chỉ là mệt thôi. Tôi nằm suốt một ngày trời trong cơn mỏi mệt của thể xác, và, sự trống rỗng của tinh thần. 

Đây thậm chí là điều tôi đã biết ở những tuần cuối cùng – tôi biết mình sẽ rơi một chút, nên tôi đã chuẩn bị tinh thần bằng những công việc khác, dự án khác. Làm cho mình tiếp tục bận rộn, là cách mà tôi ứng phó với cơn rơi có thể dự đoán trước của mình.

Có điều, tôi vẫn cần rơi một chút. Hay nói đúng hơn, cần nghỉ một chút.

Như khi đi lên hay xuống cầu thang, đều có cái đoạn “chiếu nghỉ”. Hồi còn bé, tôi luôn đặt một dấu chấm hỏi với cái đoạn “chiếu nghỉ” đó – cái bậc thang đột nhiên to đùng ra, giữa bao nhiêu bậc thang nhỏ đều khác. Nó dùng để làm gì? – tôi hỏi. Và mẹ tôi nói: để người ta có thể bước chậm lại và nghỉ một chút, trước khi tiếp tục leo lên.

Bây giờ, khi đã lớn hơn, tôi nhận ra tầm quan trọng của bậc thang chiếu nghỉ. Tôi không cưỡng lại nó nữa, mà tôi bước chậm lại, thậm chí ngồi hẳn xuống, nằm hẳn ra. Có những bậc nghỉ tôi đã nằm ở đó hơi lâu. Thế rồi tôi vẫn đi tiếp.

Tôi quay về với công việc chính của mình, và với bản thảo của mình – cái bản thảo mà người ta đã giục tôi mấy tháng nay, và tôi cũng đã đi được 3/4 chặng đường rồi. Ấy thế mà, cái đoạn 1/4 còn lại bỗng trở nên khó khăn quá. Khó nhất là không chống nổi cái ý nghĩ về sự lớn lao không bao giờ chạm đến. 

Tôi biết mình sẽ luôn giỏi lên, bởi vì tôi không dừng lại. Tôi biết mình viết ngày càng hay lên. Ít ra so với mười lăm năm trước, tôi đã đỉnh hơn rất nhiều. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì sao?

Nếu như đã cố hết sức rồi, mà cũng chỉ tới chừng đó, còn người khác thì đã ở những tầm xa lắm rồi. Những cuốn sách hay nhất, những câu chuyện hay nhất, những bài thơ hay nhất – đều đã có cả rồi. Tôi cố gắng viết hay hơn, không chỉ hay hơn mình của ngày hôm qua, mà còn là hay hơn những thứ mình cho là dở – đang có nhiều ở ngoài kia. Nhưng nếu mình không làm được thì sao?

Tôi ngồi xuống và nhìn lại cái công việc viết lách mình đã làm nhiều năm nay. Nhìn xuống bản thảo tôi đã oằn oại cùng nó hàng tháng trời. Tôi nghĩ mình đã hơi rơi một chút, nhưng không sao, vậy mới cần những khoảng đệm lớn, những tấm chiếu nghỉ. Cần người bên cạnh ép cho mình một ly nước lựu, và ninh canh cho mình ăn.

Nghĩ lại thì cái buổi đầu quyết định làm chuỗi workshop 16 tuần, tôi đã biết ngay thế nào mình cũng sẽ gặp đủ thứ chập cheng, vì mình đã có miếng kinh nghiệm nào đâu. Nhưng vì liều, nên vẫn làm. Và vì đã làm, nên đã vui. Tôi đã có hơn 300 người bạn cả mới và cũ, cùng nhau đi suốt hai tháng – cứ đều đặn cuối tuần ngồi lại với nhau, nghe về một chủ đề nào đó mà không biết có hữu ích gì cho tương lai của mình không. 

Ở cái buổi cuối cùng, một bạn mới đã nói với tôi rằng: Sau hai tháng, em đã có thêm vài thói quen mới, như uống trà, chơi cờ vây, và thiền định. 

Thế là thành công rồi.

Cái lớn lao không bao giờ chạm đến. Như bầu trời trên bãi biển Sơn Trà, sau cơn mưa nở ra một dải cầu vồng thật đẹp – không bao giờ quay lại. Mơ hồ thật đấy, nhưng nếu ngày hôm đó tôi không sẵn sàng lao ra biển vào lúc năm rưỡi chiều, thì tôi đã không thấy được.

Cái lớn lao không bao giờ chạm đến. Nhưng cái nhỏ nhoi cũng vậy. Nếu như tôi không tiếp tục viết, hay làm về những cái nhỏ nhoi, thì chắc gì nó đã được chạm đến.

Tôi có câu chuyện muốn kể của riêng tôi. Và tôi kể, vậy thôi. 

Nhược Lạc

niềm vui không lời 

Hồi này, nếu có ai vô tình thấy tụi mình ở đâu đó, họ sẽ nói: “ê dạo này hai vợ chồng đều lên cân hả, trông đẹp trai, xinh gái hơn nhiều quá.”

Tụi mình sẽ gật gật cười cười, trước khi tìm cách lỉnh đi chỗ khác. Mình hỏi anh có thấy vui hơn hồi xưa không. Hồi trước hai vợ chồng gầy còm nhom, đi đâu cũng bị nói quá trời. Mọi người nhìn tụi mình như thể hai đứa bệnh tật hết hồi cứu vãn.

Anh nói là thấy bình thường. Người ta khen mình được thì cũng chê mình được, và ngược lại.

Cái ngoại hình đã là cái rất phù du rồi, mà lời nói của con người còn phù du hơn gấp bội. Người ta nói ra một lời rồi người ta quên ngay khúc đó. Nếu suy nghĩ của mình lại bám vào một cái bay nhanh như thế thì khổ lắm. 

Dù là khen hay chê, bản chất thực ra không khác gì nhau. Nó chỉ thể hiện một điều là: người ta muốn mình sống giống như cái người ta tin là đúng.

Có lẽ điều đó khiến con người ta thấy an tâm sống hơn.

Nếu gặp một ai đó sống quá khác họ, trong lòng họ sẽ thấy bất an. Sao nó lại sống như thế? Nếu nó sống như thế – là đúng, vậy có khả năng mình đang sai? Không được, phải bảo nó cho nó thay đổi đi. 

Nhưng chuyện đấy có lẽ xảy ra khi cái vòng tròn sống quanh mình còn nhỏ quá. Mình gặp toàn những người sống giống mình, nghĩ giống mình. Nên khi gặp một người sống chệch đi, mình không chịu được.

Nếu cái vòng tròn sống của mình được mở rộng ra, gặp quá nhiều kiểu người khác nhau trong đời sống, thì khi gặp một người khác – đó chỉ đơn giản là một người khác.

Quay lại cái chuyện ngoại hình trên kia, hồi mười mấy tuổi, nếu được khen xinh chắc mình sẽ sung sướng lắm. Hồi đấy còn hoang mang nhiều, nên một lời khen sẽ cho mình có thêm động lực. Nó có nghĩa là mình đang đúng. 

Sau nhiều năm, lạ ghê, mình không còn thấy sướng nữa. Có lẽ vì mình đã có cái sướng khác.

Cái sướng của việc ăn một bát mì với nước dùng rau củ có thêm lát gừng vào mùa thu. Cái sướng của việc được ngồi trong chậu ngâm nước nóng già thơm mùi thảo mộc, xong rồi lau khô người, ra ngoài nằm ngủ một giấc thật sâu. Tỉnh dậy thấy cái lưng đã đỡ đau nhiều.

Những cái sướng không ai có thể biết đến và khen được. Những cái sướng không giãi bày ra được. 

Nhưng mà êm ả và vững chãi. 

Nhược Lạc

trung thu

Trung Thu năm nay, bạn có gì?

Chúng mình có cái may mắn của người có bánh, có trà, có nhà để ở yên. Xin được vui với niềm nho nhỏ ấy trong những ngày mùa thu thật đẹp.

Trăng đã rất đẹp từ độ mấy ngày nay, đến đúng rằm hẳn sẽ càng đẹp lắm. Rất hợp để bạn đun một ấm nước mới, sắp ấm chén, chọn trà, cắt bánh.

Bánh trung thu hợp vị lục trà, hoặc hồng trà. Chúng mình vốn uống trà vị nhạt, nhưng khi ăn cùng bánh sẽ pha hơi đậm lên một chút.

Nhâm nhi từng miếng bánh, nhấp một ngụm trà, thấy nhớ lại hôì lên năm, lên ba – hồi còn nhỏ và cái gì cũng là một niềm vui.

Mẹ mình lấy cuộng rau muống già, xếp đều nhau và xiên ngang bằng que tăm giữ lại – làm thành chiếc bè thả trôi. Bố mình lấy cái hộp bột giặt cũ bằng nhựa, đục thêm vài cái lỗ, thắp cho cây nến, vậy thôi mà sung sướng xách đi khắp nơi.

Nhưng khoái nhất vẫn là cảm giác mình là người đặc biệt – người trăng theo. Người duy nhất trăng theo. Dù anh mình cũng khăng khăng rằng trăng đi theo anh ấy mới phải. Nhầm rồi, đồ ngu ngốc. 😃

Bây giờ đã lớn lắm rồi, nhưng trăng vẫn đi theo mình. Trung thu vẫn còn có bánh, và trà, và người ngồi cạnh, và giọng trẻ con hát cho nghe.

Niềm vui, luôn đến theo những cách khác nhau, mà nếu ta quá luyến lưu một niềm vui cũ, ta sẽ nhỡ mất một trời vui mới.

Nên ngày nào còn thấy trăng, thì ngày đó ta còn ngắm thôi.

Nhược Lạc

cách một từ mới ra đời

Đôi khi, tôi nghĩ về cách một từ mới được tạo ra.

Người ta đã tạo ra nó bằng cách nào? Hay nói đúng hơn, lịch sử đã tạo ra nó bằng cách nào?

Ví thử mấy từ chỉ vật hiện hữu, như cái bát, cái đũa, cái mâm…thì chắc dễ hơn, ta cần một từ quy ước để chỉ cái cầm nắm được. Tôi hình dung một ngày đẹp trời, con người A mang cái gáo dừa ra nói với con người B: Từ hôm nay ăn cơm vào đây – gọi nó là cái bát/ cái chén.

Tuyệt. Nhưng còn các từ chỉ sự vô hình. Người ta đã tạo ra nó bằng cách nào?

Duyên phận. Hồi ức. Tình yêu. Hy sinh. Quán tưởng. Chiêm nghiệm.

Tôi hình dung một ngày, con người A nói với con người B: Khi tao nghĩ đến mày, tao thấy ầm ầm trong này (vỗ vào ngực trái). Từ hôm nay, gọi đó là nhớ thương.

Bây giờ, khi tôi đã trở thành một con người S nào đó trên mặt đất, thì từ ngữ đã khá phong phú, đủ xài trong mọi hoàn cảnh rồi. Nhưng đôi khi vẫn không.

Phải làm thế nào để diễn tả cảm giác của một đàn chuột bò nhung nhúc trong người, hay một đàn chim sáo mười ba con bay ra từ lồng ngực. Làm thế nào để nói một từ ôm hết cả hoàng hôn. Làm thế nào diễn tả cái xúc động vô vị khi anh đứng trên một ngọn núi – thứ tốn của anh vài ngày trời.

Cách một từ mới tạo ra, có phải chỉ đơn giản là tôi thốt ra đằng môi. Tôi ghép các chữ cái lại – để cố gắng viết nó xuống giấy. Rồi tôi kể cho một con người nữa: Từ hôm nay, sẽ gọi đây là Huâng.

Người đó sẽ hỏi tôi: Huâng là gì?

Tôi sẽ bảo: Huâng là sự trống trơn trong lòng tao, sau hai ngày leo núi. Nó không phải cảm giác sung sướng, hay tự hào, buồn hay thất vọng, không tự vấn đúng hay sai. Nó là cảm giác sau khi mày quần quật leo lên bằng tất cả tay, chân, bờ mông, đầu gối, thì mày không nghĩ gì nữa cả.

Và, khi đó, một từ mới ra đời.

Nhược Lạc

bát canh mùa thu

Hà Nội đã bước sang thu thật rồi. Sáng thức dậy thấy trời mưa, lạnh, bụng dạ chỉ thèm bát canh thật ấm.

Lật đật trở dậy, ngâm nấm và rong biển. Lục trong tủ xem còn củ quả gì. Nếu còn đủ cà rốt, củ cải hay khoai tây thì thật tốt. Có hôm còn có ngưu bàng.

Bắc nồi lên bếp, để lửa thật nhỏ mà sên hành tây. Khi từng miếng hành tây chuyển màu nâu, hết mùi hăng, tỏa lên mùi thơm ngọt, thì thêm củ quả tùy thích, thêm nấm đông cô, rong biển, củ sen, táo đỏ, gừng… thêm nước lọc vừa đủ, rồi cứ thế để lửa liu riu.

Nếu là bữa sáng, chúng mình sẽ lấy nước dùng đó ăn kèm mì, sủi cảo, rau cải xanh. Nếu là bữa trưa, chúng mình sẽ có tô canh ấm, ăn kèm cơm nóng hổi.

Mỗi ngụm nước canh húp vào, khiến lòng mình run lên vì ấm áp. Đôi khi chúng mình nổi da gà, và cười bảo nhau là “gió đang ra”. Càng ăn canh, càng thấy người ấm áp dễ chịu. Có khi người đổ mồ hôi nhễ nhại, nhưng sau đó là nhẹ nhõm, khoan khoái vô cùng.

Có vài thứ nguyên liệu đặc biệt hợp với mùa thu. Trước tiên phải kể đến củ sen, và gừng – thứ giúp bổ phế, ấm phổi. Kế đến là củ cải, và táo đỏ. Nhưng điều khiến một bát canh nói chung trở nên đặc biệt trong mùa thu, có lẽ chỉ đơn giản là sự ấm áp. Thứ nhiệt nhỏ lửa, liu riu nhiều giờ, khi ăn có thể cảm nhận được.

Giống như những điều nho nhỏ chúng ta làm hàng ngày, qua nhiều năm đều hiện hết lên khuôn mặt.

Những quan tâm nhỏ nhặt mà ta dành cho nhau, như đắp một tấm chăn ngang bụng, rót cốc nước để sẵn trên bàn, đun trà củ sen, hoặc ninh sẵn một nồi canh ấm nóng cho bữa ăn mùa thu. Đó không phải là thứ cần treo băng rôn, ghim trong lịch, hay phải la toáng lên thì người ở cùng mới biết.

Đó là thứ, chỉ đơn giản là ta biết, như ngụm nước canh uống vào thấy ấm lòng – nói ra thành lời làm sao mà hết được.

Nhược Lạc

niềm vui của người trưởng thành

Mọi người hay nói “Đừng lớn lên, đó là một cái bẫy” hoặc “Chỉ muốn được mãi là trẻ con”, cùng nhiều câu khác có ý nghĩa tương tự vậy.

Không hiểu sao mà tôi chưa từng.

Khi nhớ về tuổi thơ của mình, tôi nhận ra là cũng có những cái vui, và những cái không vui. Song, phần lớn, là tôi quá lạ lẫm với thế giới và không biết mình phải làm gì, nên làm gì.

Dường như tôi làm cái gì cũng sai, cũng không được lòng người lớn. Đi học cũng không được bạn bè quý mến. Đã thành thông lệ, cứ mỗi lớp học qua, tôi chỉ chơi được với đúng một người bạn.

Tôi đã cảm thấy cuộc đời tệ lậu hết sức, cho đến ngày tôi học xong và ra trường. Tự dưng, không hiểu sao, từ đó về sau, mọi chuyện cứ dễ chịu dần với tôi. Có thể là tôi đã khôn lên, có kinh nghiệm trong ứng xử với người khác hơn. Có thể là tôi đã trưởng thành hơn, và hiểu chính mình hơn.

Tôi bắt đầu biết mình muốn làm gì, cần làm gì, nên chơi với ai cho phù hợp. Vì những lẽ đó, dù khi làm người lớn, phải chịu nhiều trách nhiệm với cuộc đời mình hơn, nhưng tôi luôn thấy vui hơn khi được làm người lớn.

Tôi có cái may mắn của việc được làm một người-lớn-tự-do. Có những người lớn khác, họ có thể ở trong những tình huống khó khăn hơn, cuộc sống bươn chải của họ rất vất vả, gặp nhiều vướng mắc trong các mối quan hệ với gia đình, đồng nghiệp… Tôi là một người lớn may mắn hơn. Tôi có công việc tốt, có gia đình ổn định, yêu thương, ủng hộ, có sở thích, có mong muốn riêng – và được toàn quyền quyết định làm điều đó.

Nói cách khác, tôi hoàn toàn, cực kỳ, vô cùng tận hưởng tuổi trưởng thành của mình.

Một trong những niềm vui to lớn của tuổi trưởng thành, theo tôi, là bạn được tiếp cận với khoảng bao la rộng lớn của việc học.

Hồi còn đi học, tôi luôn không thích học.

Trường, lớp, thầy cô, bạn bè, sách giáo khoa, bài kiểm tra….luôn là cơn ác mộng đối với tôi. Đã có lúc tôi nghĩ rằng do mình quá kém cỏi, nên mới không học được, và không thấy vui với việc học.

Nhưng khi ra trường rồi, tôi mới nhận ra thế giới rộng lớn đến nhường nào. Nó rộng tới mức, bạn có thể tự do chọn ra cái bạn muốn học – cách bạn muốn học – người chỉ dẫn cho bạn học.

Và khi đó, niềm ham học ẩn giấu trong lòng tôi bỗng trào ra không ngừng. Tôi học về mọi thứ tôi quan tâm, chỉ với mạng internet. Không cần quá nhiều tiền bạc, luôn có những cách học miễn phí hoặc với giá cực kỳ hợp lý, những người đủ giỏi – đủ tốt bụng – đủ nhiệt huyết để chỉ dạy cho tôi trong các lĩnh vực khác nhau.

Theo cách đó, tôi nhận ra việc Học là một Quyền lợi, một niềm Vui, một vẻ Đẹp của thế giới – thứ mà trước đó tôi chưa từng biết đến.

Nhiều tuần qua, tôi đồng hành cùng các diễn giả trong chuỗi workshop Mở Vì Sài Gòn.

Mỗi tuần, tôi lại ngồi xuống cùng các diễn giả, dượt lại bài giảng, sắp xếp lại cho hợp lý, trao đổi về cách tương tác với người tham dự….

Quá trình đó, nói không mệt là nói dối, nhưng quả thật rất thú vị và đầy háo hứng. 

Nó khiến tôi được sống tiếp trong cái không gian của sự học, sự tiếp thu cái mới. Mỗi cuối tuần, lại có 2 diễn giả xuất hiện, với chuyên môn của riêng họ, đến nói cho những người mới tinh – như tôi – về vẻ đẹp của một lĩnh vực mới.


Giờ đây, dù bạn đang ở lứa tuổi nào, nơi chốn nào, nếu như bạn vẫn đang tìm thấy niềm vui của việc Học một điều mới – thì xin chúc mừng bạn.

Đó là một niềm vui vô bờ bến, không dễ kiếm tìm, mà chỉ người trong cuộc mới hiểu được thôi.

Nhược Lạc